




Ở nướcta, một định nghĩa khá khái quát về thoả ước tập thể được nêu ở Điều 44 Bộ luậtLao động hiện hành. Do nền kinh tế thị trường ở nước ta còn mới, các thoả ướctập thể chỉ chủ yếu được ký kết ở cấp cơ sở2. Thoả ước tập thể đượcví như một “bộ luật lao động con” tại mỗi doanh nghiệp.
Thỏaước tập thể được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai. Nộidung của thỏa ước có thể bao gồm bất cứ vấn đề nào liên quan đến quan hệ laođộng, nhưng chủ yếu vẫn là: việc làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc vàthời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương và các chế độ phúclợi; an toàn vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội... Ở nhiều quốc gia có nềnkinh tế thị trường phát triển, thoả ước tập thể là phương tiện hàng đầu để ghinhận nghĩa vụ giữ ổn định quan hệ lao động (peace obligation), hạn chế hànhđộng của công đoàn và thống nhất về cách thức giải quyết tranh chấp lao độnggiữa các bên3.
Thoảước tập thể cần được thương lượng lại sau một thời gian thực hiện để cập nhậtnhững thay đổi. Vì các vấn đề được xử lý trong thoả ước tập thể rất phong phúvà độ ổn định của chúng khác nhau, thời hạn của thoả ước tập thể cũng được ấnđịnh khác nhau. Có hai nhóm thoả ước tập thể - nếu phân biệt chúng thông qualoại thời hạn: thoả ước tập thể xác định thời hạn và thoả ước tập thể không xácđịnh thời hạn. Khi chứa đựng những vấn đề nhanh thay đổi, định kỳ cần xem xétlại thì thoả ước tập thể thường là xác định thời hạn. Trái lại, nếu thoả ướctập thể được sử dụng để quy định các nguyên tắc và điều kiện nền tảng cho thịtrường lao động, nhằm vào những vấn đề có tính chất tương đối ổn định, lâu dàinhư môi trường lao động, bình đẳng cơ hội, các nguyên tắc giải quyết tranhchấp... thì thời hạn có thể không cần xác định rõ.
Một thoảước xác định thời hạn thường có điều khoản quy định thời điểm kết thúc hiệu lựccủa nó, trong khi thoả ước không xác định thời hạn không có điều khoản này.
Ngayđối với thoả ước tập thể xác định thời hạn thì khoảng thời gian tồn tại củachúng cũng rất khác nhau. Với những thoả ước tập thể về tiền lương, thời hạnthường ngắn hơn. Ở nhiều quốc gia, thoả ước tập thể điều chỉnh tiền lương chỉcó thời hạn một năm, như Đức, Bỉ, Hàn Quốc4... Ở Pháp, một thoả ướctập thể có thể ký kết với một thời hạn năm năm hay dài hơn, nhưng với các quyđịnh về một số vấn đề có tính bắt buộc như tiền lương, thời giờ làm việc và tổchức lao động... thì người sử dụng lao động phải thương lượng lại hàng năm5.
Tuy nhiên,không phải khi nào những thoả ước tập thể về tiền lương cũng được ký kết vớimột thời gian ngắn. Thoả ước chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có sựổn định của nền kinh tế và thị trường lao động. Thêm vào đó, bên cạnh vấn đềtiền lương, thoả ước tập thể cũng có thể chứa đựng cả những nội dung khác. Bởithế, khi xác định thời hạn của một bản thoả ước tập thể, các bên của thoả ướcthường linh hoạt chứ không thể cứng nhắc. Có lẽ với quan điểm như vậy mà ở Anh,nhiều thoả ước tập thể không có quy định khi nào hết hạn. Chỉ khi nào có vấn đềmới nảy sinh thì khi đó việc xử lý thoả ước mới được tính đến6.
Trungbình, một thoả ước tập thể xác định thời hạn có thể được áp dụng trong khoảngthời gian từ một đến ba năm. Ở Nhật, hầu hết các thoả ước tập thể được ký kếtvới thời hạn một năm và thường được thương lượng lại vào mùa xuân7.Ở Mỹ, thời hạn phổ biến của thoả ước tập thể từ một đến ba năm8. Độdài tương tự cũng được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia nhưSingapore9, Thái Lan10 hay Trung Quốc11... ỞThụy Điển, thời hạn của thoả ước tập thể hoàn toàn do các bên định đoạt12.Không có quy định bắt buộc nào của nhà nước về thời hạn của thoả ước tập thể,mặc dù trên thực tế thời hạn thông thường của các bản thoả ước tập thể là hainăm. Ở một số ngành, thoả ước tập thể có thể được ký kết với thời hạn ba năm(như trong ngành hoá chất, dược, than và khai thác quặng, cao su, nhựa, thuỷtinh, đồ gốm, xi măng, năng lượng)13. Ở Việt Nam, một bảnthoả ước tập thể được ký kết từ một đến ba năm. Với doanh nghiệp lần đầu ký kếtthoả ước tập thể thì thời hạn có thể dưới một năm14.
Đôi khithoả ước tập thể được ký với thời hạn ngắn hơn hoặc dài hơn khoảng thời giannêu trên. Ví dụ ở một số nước châu Âu, nhiều thoả ước tập thể được ký kết vớithời hạn khá dài. Thoả ước tập thể có thời hạn bốn năm có thể thấy ở Ý (trongtất cả các ngành), Latvia(trong một số ngành như ngành điện và năng lượng)15, Đan Mạch (trongmột số ngành thuộc khu vực tư nhân)16. Thoả ước tập thể có thời hạnnăm năm có thể thấy ở Pháp17, Thuỵ Sỹ18. Thoả ước tập thểcó thời hạn dài nhất là ở Canada với 117 tháng, được ký kết cho khu vực nhànước19 và một số thoả ước tập thể 72 tháng được ký kết cho khu vựctư nhân20. Một số thoả ước tập thể có thời hạn rất ngắn cũng có thểxuất hiện như thoả ước tập thể bốn tháng trong ngành công nghiệp hoá chất vàsáu tháng trong ngành dược ở Pháp21.
Khi quyết định độ dài thời gian áp dụng thoả ước,bên cạnh yếu tố luật pháp, tính ổn định của vấn đề được điều chỉnh trong thoảước tập thể thì bối cảnh kinh tế cũng chi phối mạnh mẽ quá trình này. Ví dụ, ởthời kỳ kinh tế thị trường phát triển thịnh vượng, thời hạn của các thoả ướctập thể có xu hướng ngắn hơn, do công đoàn triệt để khai thác sự khan hiếm laođộng trên thị trường và khả năng chi trả cao hơn của bên doanh nghiệp22.Nhưng ở những thời điểm kinh tế suy thoái, công đoàn mong muốn kéo dài thời hạncủa thoả ước tập thể để duy trì sự đảm bảo tiền lương cũng như các chế độ khác.Vấn đề lạm phát cũng tác động đến thời hạn của thoả ước tập thể bởi vì mức lạmphát cao khiến cho đời sống của người lao động trở nên bấp bênh ngay khi cácchế độ được quy định trong thoả ước không hề thay đổi. Để đảm bảo mức thu nhậpthực tế (ví dụ khắc phục tình trạng tiền lương thực tế giảm sút...) công đoàn thườngđề xuất yêu cầu thương lượng lại các chế độ để điều chỉnh chúng theo kịp mứctăng vọt của giá cả tiêu dùng. Tất cả những yếu tố này làm cho thời hạn củathoả ước tập thể được thoả thuận ngắn hơn23.
Về nguyêntắc, một thoả ước tập thể sẽ chấm dứt hiệu lực khi nó hết hạn mà không cần đếnmột thủ tục đặc biệt nào. Pháp luật của một số nước không yêu cầu các bên phảitrao thông báo chấm dứt thoả ước tập thể nếu như thoả ước tập thể được ký kếtvới một thời hạn xác định, như Bỉ24, Niu-zi-lân25, TháiLan26 hay Malaysia27... Tuy nhiên, ngày hết hạn của thoảước tập thể thường chỉ là ngày sớm nhất mà ở đó thoả ước tập thể có thể sẽ đượcchấm dứt, bởi vì cơ chế luật pháp ở nhiều quốc gia cho phép thoả ước tập thểduy trì hiệu lực ngay cả khi nó đã hết hạn. Thông thường các bên có thể thốngnhất về một khoảng thời gian tiếp tục áp dụng thoả ước tập thể.
Gia hạnhiệu lực của thoả ước tập thể là một vấn đề khá quan trọng được pháp luật cũngnhư các bên của quan hệ lao động quan tâm. Ở một số nước, thủ tục báo trước làbắt buộc và liên quan đến việc gia hạn hiệu lực cho thoả ước. Khi một thoả ướctập thể hết hạn mà chưa có thông báo chấm dứt thoả ước của các bên thì coi nhưchưa thể chấm hết hiệu lực. Ví dụ, ở Tây Ban Nha, nếu không được thông báo chấmdứt, thoả ước tập thể sẽ được gia hạn hết năm này đến năm khác...28;ở Lúc-xăm-bua, khi một thoả ước tập thể hết hạn, nếu nó chưa được chấm dứt(theo thủ tục) và cũng chưa được sửa đổi, bổ sung thì coi như nó được ngầm địnhđược ký lại và tiếp tục có hiệu lực cho đến khi nào các bên chấm dứt nó29.
Liênquan đến vấn đề gia hạn hiệu lực của thoả ước, một hiện tượng khá thú vị cầnđược nhắc tới đó là pháp luật ở nhiều quốc gia cố gắng đảm bảo sự điều chỉnhcủa thoả ước tập thể được duy trì liên tục trên thị trường lao động, nghĩa làthị trường sẽ không khi nào bị bỏ ngỏ. Đôi khi bản thân các thoả ước tập thể cũngchứa đựng điều khoản về kéo dài hiệu lực cho đến khi nó được thay thế. Bên cạnhđó, các án lệ cũng củng cố thêm quy tắc này. Đối với những quốc gia có cơ chếnhư vậy, việc các bên trao thông báo chấm dứt một thoả ước không có nghĩa rằngcác bên đó sẽ hoàn toàn được giải phóng và không còn bị ràng buộc vào thoả ướctập thể nào, mà chỉ có nghĩa là các bên phải thương lượng thoả ước tập thể mới,nếu không, bản thoả ước tập thể đã ký sẽ không mất hiệu lực. Ở Đan Mạch, Thoảước Cơ bản (The Basic Agreement) quy định, ngay cả trường hợp thông báo chấmdứt thoả ước tập thể đã được trao, thoả ước tập thể cũng vẫn tiếp tục được ápdụng cho đến khi nó được thay thế bằng bản thoả ước tập thể mới30. ỞPháp, thời hạn để các bên thương lượng và xây dựng thoả ước mới là 15 tháng.Nếu hết thời hạn đó mà việc thương lượng không đi đến kết quả thì người laođộng sẽ tiếp tục được hưởng các quyền lợi theo quy định của thoả ước tập thể đãký31. Ở Đức, chừng nào thoả ước tập thể mới chưa được ký kết thìthoả ước tập thể cũ vẫn tiếp tục được thực hiện. Ở Thụy Điển, nguyên tắc tươngtự cũng được toà án đưa ra, trong khoảng thời gian thoả ước tập thể mới chưa cóhiệu lực thì nội dung cũng của thoả ước tập thể cũ vẫn được áp dụng...32.
Tuy nhiên,ở một số nước, khi hết thời hạn quy định trong thoả ước tập thể, nếu các bênkhông báo trước việc chấm dứt thoả ước, không thương lượng lại, hoặc thươnglượng không thành công, thì thoả ước lao động chỉ được áp dụng thêm một thờigian. Ví dụ, ở Phần Lan, nếu các bên không báo trước hai tháng trước khi thoảước tập thể hết hạn, thoả ước sẽ tự động được gia hạn một năm33. ỞThái Lan, nếu các bên không thương lượng lại, thoả ước tập thể cũng sẽ được giahạn một năm34. Ở Việt Nam, trước ngày thoả ước tập thểhết hạn, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn thoả ước tập thể hoặcký kết thoả ước tập thể mới. Tuy nhiên, sau ba tháng kể từ ngày thoả ước tậpthể hết hạn, thoả ước tập thể sẽ đương nhiên hết hiệu lực, bất kể việc thươnglượng của các bên có đạt được kết quả hay không35.
Một thoảước tập thể có thể bị kết thúc trước thời hạn khi có sự đồng thuận của các bên.Thoả ước tập thể cũng có thể bị đơn phương chấm dứt khi có hành vi vi phạmnghiêm trọng của một bên và bên khác mong muốn chấm dứt thoả ước tập thể. Nhưngđể tránh sự lạm dụng, một thủ tục chấm dứt thoả ước tập thể phải được tiếnhành. Thông thường các bên không thể tự mình làm cho thoả ước tập thể mất hiệulực mà cần có phán quyết của một cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ, ở Thuỵ Điển, toàán là cơ quan có thẩm quyền tuyên bố thoả ước tập thể không còn hiệu lực đốivới bên bị vi phạm.
Bên cạnhcác thoả ước tập thể xác định thời hạn, thoả ước tập thể không xác định thờihạn cũng tồn tại ở rất nhiều quốc gia. Nói chung, những thoả ước tập thể điềuchỉnh những vấn đề đặc biệt quan trọng cấu thành khuôn khổ pháp lý cho các thoảước tập thể cấp thấp hơn sẽ được ký kết với khoảng thời gian dài, thậm chíkhông xác định. Những thoả ước tập thể này đặc biệt phổ biến ở những quốc giacó hệ thống thoả ước tập thể phát triển cao và chúng thường là những thoả ướctập thể cấp quốc gia hoặc thoả ước tập thể liên ngành.
Một thoảước tập thể không xác định thời hạn thì không thể chấm dứt một cách tự động. Nóluôn cần có một thủ tục chấm dứt hiệu lực kèm theo. Thoả ước tập thể không xácđịnh thời hạn cũng có thể được chấm dứt bằng một thoả thuận chung giữa các bênhoặc sự đơn phương chấm dứt của một bên. Khi muốn chấm dứt thoả ước tập thể,các bên phải báo trước một thời gian quy định. Ví dụ ở Phần Lan và ở Pháp, thờigian báo trước theo luật định là ba tháng36. Đối với Thụy Điển, thờigian báo trước do các bên thoả thuận. Các bên có quyền rút khỏi thoả ước tậpthể nếu họ không muốn tiếp tục thực hiện thoả ước đó, không có điều kiện đặc biệtnào đặt ra với họ, nhưng nhất thiết phải báo trước. Nếu một bên gửi thông báochấm dứt thoả ước tập thể thì các bên khác cũng có quyền đồng thời chấm dứthiệu lực của thoả ước37. Ở Việt Nam và nhiều quốc gia ở châu Á,thoả ước tập thể không xác định thời hạn là bất hợp pháp. Do đó những vấn đềnhư thông báo chấm dứt thoả ước tập thể cũng không được nhắc đến trong phápluật.
Thờihạn của thoả ước lao động tập thể nếu được quy định hợp lý sẽ góp phần giảiquyết thoả đáng lợi ích của các bên, giúp khắc phục phần nào sự không hoàn hảocủa thị trường lao động, thúc đẩy các bên sử dụng thoả ước tập thể một cáchkinh tế và giúp ổn định quan hệ lao động. Từ việc nghiên cứu trên, tác giả nhậnthấy có một số vấn đề nên được xem xét nhằm hoàn thiện các quy định của phápluật hiện hành ở Việt Namvề thời hạn của thoả ước tập thể.
Thứ nhất, về loạithời hạn của thoả ước:
Hiện tại Bộ luật lao động xác định thoả ước tập thểlà có thời hạn và thời hạnđó không quá 3 năm. Nói chung trong bối cảnh của Việt Nam khi thoả ước tập thể chủ yếu chỉ đượcký kết ở cấp doanh nghiệp, được sử dụng để giải quyết những tình huống thực tếphát sinh trong quá trình sử dụng lao động ở đơn vị cơ sở thì quy định này vềcơ bản là phù hợp và có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa tình trạng“lười” ký lại thoả ước tập thể ở nhiều doanh nghiệp.
Tuynhiên, có một vấn đề cần tính đến đó là các nội dung của quan hệ lao động rấtrộng. Những nội dung đó khác nhau về bản chất cũng như mức độ ổn định.Thêm vào đó, hiện nay ý tưởng về ký kết thoả ước tập thể cấp ngành theo đó cóthể có những thoả ước mang tính chất khung, bền vững... đã được hình thành. Dođó, để làm đồng bộ các quy định của pháp luật lao động và khuyến khích các bênquan hệ lao động sử dụng thoả ước tập thể một cách thường xuyên, linh hoạt vàhữu hiệu, Nhà nước nên cho phép các bên ký kết thoả ước tập thể với cả hìnhthức không xác định thời hạn, tuỳ thuộc vàonội dung được xử lý trong thoả ước tập thể. Nếu thấy cần thiết, Nhà nước có thểgiới hạn những vấn đề được ký kết dưới hình thức không xác định thời hạn. Vídụ, với những nguyên tắc cơ bản của quan hệ lao động, quyền, nghĩa vụ của cácbên, cơ chế ký kết, sửa đổi bổ sung và thực hiện thoả ước tập thể, cách thức xửlý xung đột... các bên có thể lựa chọn thoả ước không xác định thời hạn. Điềunày cũng có nghĩa, các bên có thể ký kết hai hay nhiều thoả ước tập thể và ápdụng đồng thời. Mỗi thoả ước tập thể chuyên sâu về một (hoặc vài) nội dung, vớithời hạn khác nhau.
Thứ hai, xử lý thoảước tập thể hết hạn:
Theođiều 51 của Bộ luật Lao động, trước khi thoả ước tập thể hết hạn, hai bên cóthể thương lượng để kéo dài thời hạn thoả ước tập thể hoặc ký kết thoả ước tậpthể mới. Nếu quá ba tháng, kể từ ngày thoả ước tập thể hết hạn mà thương lượngkhông đi đến kết quả, thì thoả ước tập thể đương nhiên hết hiệu lực. Thực raviệc quy định sự gia hạn tương đối ngắn (ba tháng) ở nước ta nhằm mục đích vừatạo cơ hội cho các bên tiếp tục hưởng các quy định của thoả ước, vừa tạo ra mộtsức ép nhất định để các bên buộc phải khẩn trương hoàn thành quá trình thươnglượng và đi đến ký kết thoả ước tập thể mới. Tuy nhiên điều này cũng chỉ có ýnghĩa khi cả hai bên cùng có thái độ tích cực đối với việc sử dụng thoả ước bởithoả ước tập thể chỉ là văn bản được lập trên cơ sở tự nguyện.
Dự thảoBộ luật Lao động đưa ra quy định mới với một vài sửa đổi, theo đó thời hạn nêutrên còn được rút ngắn hơn, chỉ là 30 ngày, trường hợp hai bên không ký kếtthỏa ước lao động tập thể mới thì thoả ước lao động tập thể cũ đương nhiên hếthiệu lực38. Trên thực tế, việc quá hạn này thường xuyên xảy ra. Nếuxử lý máy móc như trên, làm thoả ước mất hiệu lực thì chỉ người lao động bịthiệt hại còn doanh nghiệp thì không, và vì thế doanh nghiệp sẽ càng bỏ mặckhông ký kết lại thoả ước tập thể39. Theo ý kiến của tác giả, khimột thoả ước tập thể hết hạn, các chế độ cho người lao động theo thoả ước tậpthể nên được tiếp tục thực hiện đến chừng nào có thoả ước tập thể mới thay thế.Tuy nhiên, nghĩa vụ duy trì “hoà bình công nghiệp” (industrial peace obligation)của công đoàn nên được coi là đã hoàn thành để họ có thể chủ động tổ chức đìnhcông với ý nghĩa là biện pháp gây áp lực nhằm giải quyết bế tắc trong quá trìnhthương lượng nhằm xây dựng thoả ước tập thể mới.
Nói chung, quy định về thời hạn của thoả ước tập thể nên linhhoạt. Nhà nước cố gắng đảm bảo lợi ích chung thông qua những can thiệp nhấtđịnh vào hoạt động thương lượng nhưng mặt khác cũng dành sự tự chủ nhất định chocác bên. Điều này một mặt cho phép các bên của quan hệ lao động kịp thời điềuchỉnh và cân đối lại lợi ích giữa họ sau một thời gian thực hiện thoả ước tậpthể, mặt khác cũng đảm bảo tính ổn định cần thiết của quan hệ lao động.
(1) Xem Mục IIcủa Khuyến nghị về Định nghĩa thoả ước tập thể.
(2) Hiện nay ởnước ta, thoả ước tập thể cấp ngành đầu tiên (và là thoả ước tập thể thửnghiệm) đã được ký trong ngành dệt may ngày 26/4/2010.
(3) Vấn đề này được đề cập đến trongnhiều tài liệu, ví dụ, Sriyan de Silva (1996), Thương lượng tập thể, Tài liệuđược xuất bản bởi Văn phòng Các hoạt động của giới chủ (ILO).
(4) Xem:Blanpain (2007) Luật Lao động so sánh và quan hệ lao động ở các quốc gia có nềnkinh tế thị trường đã công nghiệp hoá, Wolters Kluwer, trang 621.
(5) Xem: Thoảước tập thể, Jus Laboris ấn hành năm 2005, trang 12.
(6) Xem:Blanpain (2007), sđd,
(7) Xem:Blanpain (2007), sđd,
(8) Xem:Blanpain (2007), sđd..
(9) Xem Điều25 Luật Quan hệ công nghiệp của Singapore.
(10) Xem Điều12 Luật Quan hệ lao động (BE 2518) 1975.
(11) Xem Điều38 Luật Hợp đồng tập thể của Trung Quốc 2004.
(12) Thươnglượng tập thể ở châu Âu, Ấn hành bởi Ministerio de Trabajo y Asuntos Sociales,Tây Ban Nha, 2004, trang 249.
(13) VeraGlassner and Bela Galgoczi (2008), Tài liệu trình bày tại Hội thảo “Làm thế nàođể cải thiện thương lượng tập thể ở châu Âu”, Budapest 17-19/10/2008.
(14) Đoạn 1, Điều 50, Bộ luật Laođộng năm 2002 và các sửa đổi, bổ sung.
(15) VeraGlassner and Bela Galgoczi (2008), tlđd.
(16) Xem: Thoảước tập thể - Jus Laboris ấn hành năm 2005, trang 9.
(17) Xem:Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 125.
(18) Blanpain(2007) Luật Lao động so sánh và Quan hệ lao động ở Các quốc gia có nền kinh tếthị trường đã công nghiệp hoá, Wolters Kluwer, trang 621.
(19)Đây làthoả ước tập thể được ký kết giữa Société des alcools du Québec và Syndicat dupersonnel technique et professionnel de la Société des alcohols du Québec.Xem:Innovation Workplace Practices in 2008-ww.hrsdc.gc.ca/eng/labour/labour.../info.../Overview_2008.shtml.
(20) Thoả ướctập thể này được ký kết bởi một tập thể các tổ chức sử dụng lao động ở Québecvà bên công đoàn. Xem: Innovation Workplace Practices in2008-ww.hrsdc.gc.ca/eng/labour/labour.../info.../Overview_2008.shtml.
(21)VeraGlassner and Bela Galgoczi (2008), tlđd.
(22)Xem:Blanpain (2007), sđd,
(23)Xem:Blanpain (2007), sđd,
(24)Xem:Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 53.
(25)Xem:Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 151.
(26)Xem: LuậtQuan hệ lao động (BE 2518)1975
(27) Xem Luật Quan hệ công nghiệp1967.
(28) Xem:Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 291.
(29) Xem: Thoảước tập thể - Jus Laboris ấn hành năm 2005, trang 26.
(30) Điều 7.2.Thoả ước tập thể Cơ bản (Basic Agreements) 1992. Xem: Ole Hasselbalch,Monica Smith, Sylvia van Oosten-Rosman (2005) Luật Lao động ở Đan Mạch, đoạn758.
(31) NguồnThoả ước tập thể - Jus laboris ấn hành năm 2005, trang 12.
(32)Xem án sốNJA 1958 trang 196, NJA 1959 trang 562, cf. AD 1978 Số 134. (Nguồn:Adlercreutz, A./Nyström, B., (2009) Thụy Điển, đoạn 568).
(33) Xem:Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 88.
(34) Xem Điều12 của Luật Quan hệ lao động (BE 2518) 1975.
(35) Điều 51.Bộ luật Lao động năm 2002 và các sửa đổi, bổ sung.
(36) Với PhầnLan, xem: Niklas Bruun, Helsinki, Thoả ước tập thể ở Phần Lan, trong Thươnglượng tập thể ở châu Âu, Ấn hành bởi Ministerio de Trabajo y Asuntos Sociales,Tây Ban Nha/2004, trang 89. Với Pháp, xem: Thương lượng tập thể ở châu Âu,tlđd, trang 126.
(37) Ở Thụy Điển, một thoả ước tậpthể có thể có nhiều bên cùng tham gia. Ví dụ, Thoả ước tập thể cấp ngành/quốcgia (industrial/national level collective agreements) của Thụy Điển được ký kếtgiữa 12 hiệp hội giới chủ là thành viên của SAF (tổ chức giới chủ) và 8 Côngđoàn thành viên của LO (công đoàn của lao động chân tay), TCO (công đoàn củalao động văn phòng) và SACO (lao động chuyên nghiệp). Nguồn: Thoả ước tập thể ởThụy Điển, Trang thông tin điện tử EMIRE /industrial relations/collective agreements/, Thụy Điển, 10/2007. Khi một bên không muốn tiếp tụctham gia thoả ước tập thể, bên đó có thể rút khỏi thoả ước. Các bên còn lại vẫntiếp tục thực hiện thoả ước.
(38) Xem điều86, Dự luật lần 2.
(39) Hiện nay đây cũng là một trongnhững nội dung được tranh luận trong quá trình hoàn thiện Dự thảo Bộ luật Laođộng. Xem: Trương Thanh Đức (2010), Ràng buộc lệch chuẩn, Thời báo Kinh tế SàiGòn 25/3/2010, tr.48.
ThS. Hoàng Thị Minh (*) Ths, Giảng viên Khoa Pháp luật kinhtế - Đại học Luật Hà Nội.
Nguồn: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/ve-thoi-han-cua-thoa-uoc-lao-111ong-tap-the
Lưu Ý: Thông tin nêu trên chỉ có tính tham khảo và có thể đã hết giá trị sử dụng tại thời điểm Quý Vị đọc thông tin này. Vì vậy Quý Vị cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.
MẠNG KIẾN THỨC LUẬT VIỆT NAM
Địa chỉ: Tầng 3, Số 26, Lô 1A, khu đô thị Trung Yên, Hà Nội
Tel: 04 2215 8998 - 0984.999597 *Fax: 04. 3783 5557
Sơ đồ chỉ dẫn: Xem tại đây