




Có thể nói Keynes là nhà kinh tế đi đầu trong việc nhấn mạnh đến vai trò canthiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Kinh tế tư bản phục hồi và từ đó dù vẫntiếp tục trải qua nhiều khủng hoảng nhưng cũng chứng tỏ sức sống mãnh liệt củanó trong việc phát huy tiềm năng con người về khoa học kỹ thuật và đưa tiềmnăng này vào phát triển kinh tế. Trong khi các nước tư bản tìm mọi cách cảicách thì xuất hiện một mô hình kinh tế mới của các nước xã hội chủ nghĩa, đứngđầu là Liên Xô, lấy hoạch định kinh tế làm cơ sở trong đó nhà nước đóng vai tròchủ chốt về mọi mặt của cuộc sống, nhưng về mặt kinh tế thì nắm toàn bộ giá trịthặng dư, tập trung vào tích lũy để phát triển là điểm mấu chốt. Mô hình mớinày vận động tổng hợp được sức mạnh của khoa học kỹ thuật và tiềm năng thiênnhiên sẵn có cũng như sự hy sinh của con người đã tạo được đột biến trong pháttriển cho Liên Xô, nhưng rồi do năng suất thấp kém, tiềm năng con người bị đèbẹp trong hệ thống nhà nước hoạch định ngày càng quan liêu hoá, thiếu dân chủ,với vài người nghĩ cho nhiều người, nền kinh tế Liên Xô đã đi đến chỗ phá sản.Các nước khác do sống nhờ vào sức mạnh kinh tế của Liên Xô cũng có số phậntương tự. Thực tế này cho thấy để giải quyết vấn đề người bóc lột người trongmột chế độ kinh tế tư bản, mà lý thuyết thặng dư nói tới, kinh tế hoạch địnhkiểu cũ không phải là giải pháp. Mục đích xoá bỏ người bóc lột người vẫn sẽtiếp tục là mục tiêu của những người cấp tiến trong đó có những người theo chủnghĩa Marx, nhưng kinh nghiệm thực tế vừa qua đòi hỏi việc nhìn nhận lại lýthuyết thặng dư và từ đó đúc kết nhằm đưa đến một cái nhìn mới về một xã hộikhông còn bóc lột lao động hay ít nhất là về một xã hội mà tình trạng bóclột được giảm thiểu tới mức tối đa. Bài viết này là nhằm mục đích đó.
Lý thuyếtthặng dư của Marx
Marxgiải thích thặng dư giá trị như sau: “Hình thức đúng đắn của quá trình này dođó là M-C-M’, M’ = M+M=tổng số tiền ban đầu cộng thêm phần tăng thêm. Phầntăng thêm này, phần vượt giá trị ban đầu này tôi gọi là giá trị thặng dư.”[3] Thặng dư như vậy là quá trình chuyển lượng tiền ban đầu (M) qua sản xuất hànghoá (C) để đem về được lượng tiền M’ lớn hơn.
Thặng dư giá trị bao gồm cảlãi và lợi nhuận như Marx viết: “Nhà tư bản tạo ra thặng dư giá trị – nghĩa làrút tỉa lao-động-không-trả-công thẳng từ người lao động và gắn nó vào hàng hoá- thật ra nhà tư bản là người nắm lấy ban đầu[4],nhưng không phải là người sở hữu cuối cùng thặng dư giá trị này. Anh ta phảichia cho các tay tư bản khác, như chủ đất, v.v. Thặng dư giá trị do đó bị phânthành nhiều phần, rơi vãi cho nhiều thành phần dưới nhiều dạng như lợi nhuận,lãi, lợi nhuận của nhà buôn, tiền thuê, v.v.”[5]
Ý niệmgiá trị thặng dư của Marx có thể trình bày theo thống kê kinh tế hiện đại trongbảng 1.
Bảng 1
Phân phối doanh thu và thặng dư theo ý niệm thống kê hiện đại
|
| Giá hàng hóa |
|
| Trừ | Chi phí sản xuất |
|
|
| Hàng hoá và dịch vụ dùng trong sản xuất |
|
|
| Lương bổng | Giá trị tăng thêm tính vào GDP (bằng tổng của lương bổng thuế sản xuất, khấu hao và giá trị thặng dư)
|
|
| Thuế sản xuất | |
|
| Khấu hao | |
| Bằng | Giá trị thặng dư | |
| Trừ | Lãi trả cho vốn vay ngân hàng, và vốn thuê tài sản không do con người làm ra, và vốn người sở hữu bỏ ra | |
| Bằng | Lợi nhuận |
Giátrị thặng dư theo quan điểm của Marx[6] như đã trình bày ở trên là giá trị hànghoá trên thị trường sau khi trừ đi chi phí sản xuất (tức là chi phí hàng hoá vàdịch vụ dùng trong sản xuất),[7] chi phí trả cho lao động,thuế sản xuất và khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất. Giá trị thặng dưgồm hai phần:
· Phần trả lãicho vốn mà doanh nghiệp vay ngân hàng. Phần trả cho tiền thuê đất, sử dụng bầutrời, biển, tài sản trong lòng đất hoặc nói rộng ra là các tài sản không do conngười làm ra (tức là không do lao động tạo ra). Hai phần này Marx đều coi nhưlà trả lãi. Điều này cũng phù hợp với lý thuyết kinh tế của thống kê Tài KhoảnQuốc Gia của Liên Hợp Quốc[8].
· Phần còn lại làlợi nhuận cho chủ xí nghiệp hay là các cổ phần viên.
Marx không phânbiệt lãi và lợi nhuận vì đều coi chúng là thuộc gi�� trị thặng dư. Toàn bộ giátrị thặng dư theo Marx là do sức lao động của con người tạo ra vì bản thân củatiền nếu không qua quá trình sản xuất hàng hoá sẽ không thể tạo ra lượng tiềnnhiều hơn. Giá trị thặng dư này, trong xã hội tư bản, thuộc về tư bản (người bỏvốn và người tư hữu các tài sản không do con người tao ra, tức là những ngườitư hữu tư liệu sản xuất).
Nhìn nhậnlại lý thuyết thặng dư
Marx cho rằng lýluận của ông không có tính chất phê phán đạo đức mà chỉ có tính phân tích nhằmtìm nguồn gốc của thặng dư. Theo cách nhìn của Marx:
· Tài sản cố định là lao động chết tức là từ thặng dư laođộng của quá khứ, giá trị của nó đã được phản ánh qua chi phí khấu hao.
· Tài sản tài chính dùng để tổ chức sản xuất (cần cóvốn trả lương cho lao động trước khi có thể thu hồi lại vốn sau khi bán hàng)cũng như dùng để mua hoặc chế tạo tài sản cố định dùng trong sản xuất là do bóclột lao động mà ra.
· Tài sản không do con người sản xuất ra như đất đai vàcủa cải thiên nhiên mà một người nào đó nắm được là do sử dụng bạo lực, hoặc dothừa kế từ cha ông sử dụng bạo lực, hoặc do thu mua cũng từ vốn thặng dư sinhra từ bóc lột lao động.
· Lương lao động theo quan điểm của Marx bao gồm cả phầntrả lương cao cho lao động quản lý và lao động có kỹ thuật cao, tức là lao độngquản lý và kỹ thuật của bản thân của người sở hữu tư bản, nếu như họ cũng làmviệc.[9]Như vậy giá trị thặng dư chỉ có thể hiểu là phần chiếm hữu của người sở hữu tưbản không hoạt động, hoặc phần chiếm hữu vượt quá mức giá trị lao động họ bỏra.[10]
Lãi và lợi nhuậndo việc sở hữu các tài sản mang lại là từ thặng dư lao động. Bảng 1ở trên cũng cho thấy là lý thuyết kinh tế tư bản hiện đại cũng coi lãi vàlợi nhuận là thặng dư (operating surplus). Nói tóm lại, bóc lột xuất hiện dướihình thức giá trị thặng dư chỉ xảy ra trong một xã hội có tư hữu tư liệu sảnxuất. Marx dĩ nhiên không quên các loại vắt sức lao động người khác bằng bạolực để chiếm đoạt mà ta thường gọi là áp bức đã từng xảy ra trong suốtlịch sử loài người của chủ nghĩa nô lệ, đế quốc, thực dân, cũng như qua cáchành động hoặc áp đặt hoặc duy trì tình trạng bất bình đẳng trong quan hệ traođổi của quá trình toàn cầu hoá hiện nay.[11]
Từ nhận định vừa có tính chất thực tế về xã hộitư bản chủ nghĩa vừa dựa trên phương pháp trừu tượng hoá, xoá bỏ những phức tạpcó tính đặc thù, để làm phân tích khoa học, Marx đã đưa đến một cái nhìn tươnglai về một xã hội không có bóc lột trong Tuyên ngôn Cộng Sản.
Trong Tuyênngôn này Marx chủ trương: “xoá bỏ chế độ tư hữu”, cụ thể hơn là c�� vũ cho“giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị” và “dùng sự thống trị của mìnhđể từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trungtất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấpvô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị” kể cả “tước đoạt sở hữu ruộngđất”, “xoá bỏ quyền thừa kế”. Và nắm quyền bằng bạo lực. “Những người cộng sảncoi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu diếm những quan điểm và ý định của mình. Họcông khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạolực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành.”[12]
Như vậy mặc dùkhông để thì giờ suy nghĩ và viết nhiều về xã hội tương lai, tức là xã hội xãhội chủ nghĩa có tính chuyển tiếp, rõ ràng theo Marx xã hội này phải dựa trênmột nhà nước của giai cấp vô sản, trong đó toàn bộ tư liệu sản xuất và tấtnhiên là vốn tài chính nằm trong tay nhà nước. Và nhà nước này cũng chỉ là mộthình thức quá độ đến xã hội cộng sản. Marx tin tưởng rằng xã hội cộng sản sẽ làmột xã hội mà ở đó nhà nước sẽ không còn tồn tại, con người hoàn toàn tự ý thứclàm việc vì mọi người. Tổ chức xã hội cộng sản sẽ là phải là thể chế mà ở đócon người không còn giai cấp, hoàn toàn bình đẳng, tự do, có trách nhiệm và làmviệc hết khả năng, không tư lợi.
Trong nền kinh tếkhông có tư hữu và con người không toàn hảo, tức là ở thời kỳ quá độ, ngườichăm chỉ, năng suất cao, tri thức cao tất nhiên cũng được trả lương cao hơnngười lười biếng, tri thức thấp, năng suất thấp. Nhà nước sẽ tính toán đầy đủđể mọi người sử dụng hết lương được trả, số tiền dành dụm và tâm lý dành dụmcoi như không đáng kể và chẳng cần khuyến khích. Toàn bộ phần còn lại là thặngdư giá trị lao động mà nhà nước chiếm dụng với mục đích tích lũy nhằm đẩy mạnhsự phát triển kinh tế và mang lại lợi ích cao hơn cho mọi người lao động.
Thặng dư lao động mà nhà nước chiếm đoạt ở cácnước xã hội chủ nghĩa trước kia có thể nói là rất cao, phản ánh qua tỷ lệ tíchlũy/GDP lên đến 30-35%. Nếu nhìn vào thặng dư lao động mà nhà nước chiếm dụngthì tỷ lệ này nói chung cao hơn chế độ tư bản Mỹ. Vào năm 1996, ở Việt Nam tỷ lệ thặngdư là 19,0% trong khu vực công nghiệp nhà nước so với ở Mỹ là 22,6%. Nếu kể cảthuế sản xuất vào thặng dư (như theo quan điểm của Marx) thì tỷ lệ thặng dư ởViệt Namlà 35%, cao hơn tỷ lệ thặng dư ở Mỹ là 30.0%[13].
Bảng 2
Một số chỉ tiêu thu nhập lao động và thặng dư tính trên GDP
|
| Mỹ, 1996 | Việt Nam, 1996 | |
| Cả nền kinh tế | Công nghiệp nhà nước | ||
| Thuế sản xuất | 7,7% | 15,1% | 16,0% |
| Thu nhập lao động | 60,0% | 63,8% | 52,7% |
| Khấu hao | 10,5% | 10,2% | 12,3% |
| Thặng dư | 22,6% | 10,9% | 19,0% |
Nguồn: National AccountsStatistics, 1996-1997, Liên Hiệp Quốc và Kinh tế Việt Nam Trong NhữngNăm Đổi Mới, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2000.
Chúng ta có thể lýluận là việc nhà nước nắm thặng dư về cơ bản khác với việc tư nhân nắm thặngdư. Nhà nước nắm thặng dư là nhằm phục vụ cho số đông. Nhưng đối với nhiềungười lao động có thể họ nhìn khác vì không tin tưởng vào vai trò, tính hiệu quả và sự trong sạch của nhà nước. Họchỉ cần thấy phần được chia của họ; phần thặng dư bị người khác nắm lấy, dù lànhà nước hay tư nhân thì cũng giống nhau. Nếu coi bảng trên ta thấy tỷ lệ GDPtrả cho người lao động trong công nghiệp (thu nhập lao động ở Việt Nam) cũng rõràng là thấp hơn ở Mỹ. Lao động chỉ nhận được 52,7% từ GDP thay vì 60% như ởMỹ. Chúng ta cũng có thể lý luận ngược lại có thể là: bây giờ thì thế nhưng tươnglai thì khác. Nhà nước không nhằm mục đích bóc lột lao động nhưng vì các mụcđích chung tốt đẹp và sự phát triển của kinh tế. Nhưng đợi đến ngày thấy kếtqủa của tương lai này tới thì có lẽ mọi người đã nằm trong nhà mồ rồi. Và cũngchẳng có gì bảo đảm là nhà nước sử dụng thặng dư hiệu quả hơn.
Chúng ta có thểthấy khá rõ ràng tính chất viễn mơ của hệ luận dựa trên quan điểm của Marx nhưsau:
Xoá bỏ bóc lột laođộng - Xoá bỏ tư hữu - Nhà nước nắm thặng dư - Xã hội, con người toànhảo.
- có nghĩa là tất dẫn đến. Chỉ có sựliên hệ tất yếu như thế thì về mặt logic hoặc hình thức hoặc thực tế, quan điểmcủa Marx mới có ý nghĩa. Marx không viết ra rõ ràng về xã hội và con ngườitrong xã hội không còn tư hữu, nhưng tôi nghĩ rằng Marx cho rằng con người có thểđạt đến con người toàn hảo trong một thể chế toàn hảo. Thể chếtoàn hảo này là thể chế không có tư hữu tư liệu sản xuất. Con người toàn hảo làcon người:
· Tôntrọng tự do của người khác,
· Khôngmàng tư hữu, danh lợi, quyền lực
· Làmviệc hết mình vì người khác
· Khôngtiêu dùng quá sức mình
· Nắmbắt được tri thức hiện đại, thông tin cụ thể và nhìn xa thấy rộng
· v.v.
Marx khôngbao giờ viết như vậy, nhưng có lẽ ta cần nhìn như vậy thì mới thấy ý nghĩa củaviệc Marx tìm ra nguồn gốc của bóc lột ở tư hữu, để từ đó Marx mơ đến một xãhội toàn hảo không còn tư hữu và cổ võ cho cuộc cách mạng bạo lực xoá bỏ tưhữu. Từ đây chữ tư hữu được dùng thay cho chữ tư hữu tư liệu sản xuất cho ngắngọn chứ còn Marx phân biệt rất rõ tư hữu những vật thể hữu hình và vô hình cánhân và tư hữu tư liệu sản xuất.
Xã hội toàn hảo màMarx mơ tới đã không xảy ra và việc xây dựng con người toàn hảo cũng không đạtđược ở các nước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ.
Chế độ xã hội chủnghĩa dựa trên công hữu nhà nước đã phá sản. Sự phá sản này cho thấy rõ rằngthể chế xã hội không chỉ xây dựng trên cơ sở kinh tế, mặc dù cơ sở kinh tế làquan trọng nhất. Thể chế xã hội còn xây dựng trên quyền lực, đặc biệt làtham vọng quyền lực, trong đó việc sử dụng quyền lực cá nhân hoặc tập thể mộtcách độc đoán đã đưa đến nhiều thảm hoạ cho con người. Điều này Marx đãkhông nhận diện hết. Marx chỉ nhấn mạnh đến quyền lực phát sinh từ quyền lựckinh tế. Nhưng rõ ràng là quyền lực có thể phát sinh từ bạo lực cá nhân và tậpthể, từ độc quyền chính trị, từ tri thức, từ tôn giáo và từ sức mạnh kinh tế,bất kể hình thức tổ chức bộ máy nhà nước. Ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, quyềnlực cá nhân do tư hữu kinh tế mang lại đã bị tước bỏ, nhưng quyền lực hoặc lạmd���ng quyền lực cá nhân và bè nhóm đã không bị xoá bỏ mà còn được nhân lên gấpvạn lần dưới thời Stalin và Mao.[14]Con người từ lãnh tụ đến nhân dân đã không đi đến toàn hảo mà bị tha hoá trầmtrọng. Vấn đề quyền lực trong một nước xã hội chủ nghĩa chỉ mới được nhìn nhậngần đây và việc nhìn nhận vẫn còn dè dặt, nửa vời. Chúng ta có thể lý luận làlạm dụng quyền lực có thể bị xoá bỏ nếu như có thể chế phù hợp nhằm hạn chế vàcân bằng quyền lực trong xã hội. Điều đó có thể đạt được lắm chứ. Nhưng sự tướcbỏ tư hữu chắc chắn không đưa đến con người toàn hảo, mình vì mọi người vàchính đó là lý do làm động lực phát triển bị thui chột.
Sự phá sản của cácnước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ không có nghĩa là lý thuyết thặng dư không đúngvà cũng không có nghĩa là hệ luận mà Marx rút ra từ lý thuyết thặng dư là khôngđúng. Cho đến nay cũng chưa thấy ai đưa ra lý thuyết nào bác bỏ lý thuyếtthặng dư mà có tính thuyết phục cao. Nhưng vấn đề không phải là bác bỏ lýthuyết thặng dư mà là bác bỏ tính tất yếu của hệ luận từ lý thuyết thặng dưsang xoá bỏ tư hữu, tức là xoá bỏ cơ sở của bóc lột lao động. Việc bác bỏ nàycũng chỉ có nghĩa là thể chế xã hội chủ nghĩa kiểu cũ không thích hợp, vì nókhông dựa trên một cái nhìn đúng đắn về con người và quyền lực. Như đã nói, conngười có thể xây dựng một thể chế mới thích hợp hơn. Nhưng đến nay thì không aidám thử nghiệm với một mô hình kiểu mới dựa trên xoá bỏ tư hữu, và có lẽ cũngkhông có một dân tộc nào lại dại dột làm một cuộc thử nghiệm mới bởi vì họkhông thể tiên đoán được giá phải trả sẽ như thế nào. Các nước xã hội chủ nghĩacũ còn lại như Việt Nam và Trung Quốc đã trở lại với kinh tế thị trường, chấpnhận tư hữu, tức là chủ nghĩa tư bản, chí ít là trong giai đoạn quá độ hiệnnay. Một hình thức khác mà các nhà chính trị Trung Quốc và Việt Nam đang theođuổi là chấp nhận kinh tế thị trường cạnh tranh, chấp nhận tư hữu trong giaiđoạn hiện tại, nhưng xây dựng công hữu qua doanh nghiệp quốc doanh, coi chúnglà chủ đạo, và hy vọng là công hữu quốc doanh sẽ vươn lên chiếm ưu thế, đè bẹptư hữu về dài hạn. Con đường này tất nhiên chẳng có gì là sai về mặt lý luận,nhưng nó đã được xây dựng trên hai tiền đề rất không thực tế: (a) công hữu tấtdẫn đến năng suất lao động cao hơn tư hữu; (b) con người hoạt động đại diệncông hữu là con người toàn hảo hoặc chí ít là ngày càng toàn hảo.
Vậy vấn đề đặt ralà liệu có một giải pháp xoá bỏ bóc lột hoặc ít nhất là giảm thiểu bóc lột màkhông cần xoá bỏ tư hữu, hay không cần lấy công hữu làm chủ đạokhông?
Kinhtế thị trường và việc nhìn nhận lại lãi
Kinh tế thị trườngdựa vào một nhận định rất thực tế là con người không toàn hảo, mặc dù cần phảisống trong cộng đồng nhưng là vị kỷ, đặt lợi ích cá nhân lên hàng đầu và chỉchịu hạn chế tự do và lợi ích cá nhân khi chúng là những đòi hỏi cần thiết màcộng đồng cần áp đặt lên cá nhân để bảo vệ sự tồn tại của cộng đồng, đồng thờicá nhân đó cũng chấp nhận sự áp đặt vì chính sự tồn tại của cộng đồng bảo vệlợi ích của nó. Áp đặt và chấp nhận áp đặt này có tính đồng thuận xã hội.
Trong một nền kinhtế thị trường với những con người tư lợi, tuyệt đại đa số lao động đòi hỏi đượctrả công theo công sức mà họ bỏ ra. Người chăm chỉ, năng suất cao, tri thức caođòi hỏi có lương cao hơn người lười biếng, tri thức thấp, năng suất thấp. Điềunày tất nhiên có thể áp dụng trong cả nền kinh tế thị trường tự do hay nền kinhtế không có tư hữu. Nhưng cái khác cơ bản là nếu như một lao động chịu khó làmviệc, có lương cao, chịu khó dành dụm, và khi họ lấy tiền để dành cho nhà nướcvà người khác vay để tái sản xuất ở mức cao hơn, thì họ có thể hưởng lãi trênsố tiền vốn cho vay ấy không? Theo phân tích của Marx thì lãi này phátsinh từ lao động của người khác, nên lãi này tất nhiên có nguồn gốc bóc lột laođộng của người khác. Đó chỉ là một cách nhìn. Nhưng chúng ta cũng có thể nhìnmột cách khác, dưới lăng kính của con người vị kỷ. Đã là con người vị kỷ thì dùlà một cá nhân nào đó, một tập thể nhỏ nào đó, hay là nhà nước muốn sử dụng vốnđể dành do chính sức lao động của một cá nhân nào đó tạo ra thì không lẽ cánhân đó lại phải cho mượn không có lãi để tránh mang tiếng bóc lột? Vànếu “không có lãi” là phạm trù của thể chế xã hội, thì số người chịu dành dụmsẽ không đáng kể. Dưới cách nhìn lãi là bóc lột, Marx đã không nghĩ ragiải pháp gì khác hơn là dùng bàn tay nhà nước nắm thặng dư lao động để có tíchlũy xã hội. Và đó là quan điểm cần thiết đối với Marx vì có thể nói, Marxlà nhà kinh tế đầu tiên trong lịch sử nhìn ra tầm quan trọng của tích lũy, yếutố chính trong phát triển kinh tế. Quan điểm này rấtlogic.
Nhưng trong nềnkinh tế thị trường, nếu coi lãi là giá cần thiết mà người cần vốn phải trả chongười có vốn và qua đó hai bên cùng có lợi thì lãi vẫn là thặng dư lao động,nhưng không thể coi là bóc lột. Quan điểm chống cho vay lãi đã là quan điểm củaThiên chúa giáo và Hồi giáo kéo dài hàng ngàn năm, do đó không thể không ảnhhưởng đến quan điểm của Marx. Mà quan điểm chống cho vay lãi thực chất là chốngcho vay nặng lãi khi thị trường vốn chưa hình thành, khi nền kinh tế không cócạnh tranh và do đó việc cho vay hoàn toàn tùy thuộc vào sức mạnh độc quyền củamột vài người có vốn.
Nếu lãi không phảilà thặng dư có tính bóc lột, thì trả lãi cho vốn cổ phần huy độngcũng thế. Người bỏ vốn cổ phần hy vọng ít nhất là tỷ lệ thu nhập thu về bằngvới lãi suất trả cho người cho vay vốn. Nếu đầu tư có rủi ro hơn thì người bỏvốn tất kỳ vọng phần lãi thu về cao hơn lãi cho vay. Nếu nhìn như thế, chỉ cóphần thu nhập cổ tức (hay lợi nhuận) vượt mức lãi dựa trên lãi suất để dành[15]mới có thể gọi là thặng dư có tính bóc lột. Trong Bảng 1, thặng dư cótính bóc lột gọi là lợi nhuận là phần thặng dư vượt mức lãi cho vốn có tínhđể dành. Phần thuế sản xuất thực chất theo Marx cũng là thặng dư do nhà nướcthu lấy.
Lý thuyết kinh tếtân cổ điển (neoclassical theory) đã chứng minh rằng trong thị trường cạnh tranhtoàn hảo, lợi nhuận vượt mức lãi để dành theo định nghĩa ở trên (coi bảng 1)bằng không (zero). Do đó một nền kinh tế thị trường có cạnh tranh toàn hảokhông có bóc lột lao động. Vậy thị trường cạnh tranh toàn hảo là gì?
Thị trường cạnhtranh toàn hảo (perfect competition) là mô hình lý thuyết trừu tượng vàtoàn bích. Nó là cơ chế trong đó các đơn vị tham gia, kể cả người bán vàngười mua, không ai kiểm soát được giá cả trên thị trường và họ có đầy đủ thôngtin về thị trường, về kỹ thuật không những cho hiện tại mà còn cho cả tương laiđể làm quyết định tối ưu, nói tóm lại là không có vấn đề rủi ro. Giá sản phẩmlà cái có sẵn trên thị trường, do cung cầu định đoạt. Thị trường này tồn tạikhi một sản phẩm có rất nhiều người bán (hoặc người sản xuất) và rất nhiềungười mua, do đó quyết định của từng đơn vị nhỏ bé trong đó không ảnh hưởng gìđến giá cả của thị trường.
Trên thị trường,các đơn vị sản xuất tính toán nhằm tối ưu hoá lợi nhuận bằng cách phối hợp vốn,kỹ thuật và phương tiện sản xuất, vật tư và lao động, còn người lao động sẽquyết định một cách hợp lý nhất việc sử dụng lao động của mình để có lợi tức vàlựa chọn hàng hoá tiêu dùng đạt thoả mãn cao nhất. Có thể chứng minh làhệ thống thị trường tự do này là cơ chế sử dụng hữu hiệu nhất nguồn tài nguyênthiên nhiên và con người nhằm tạo ra của cải vì bất cứ một tác động điều tiếtnào, dù không ảnh hưởng đến hiệu qủa làm ra của cải, cũng chỉ là sự phân phốilại: lợi của đơn vị này bù trừ thiệt của đơn vị khác. Trong thị trường cạnhtranh hoàn hảo, lợi nhuận (profit) – tức là phần thặng dư vượt lãi suất tối ưu- bằng zero. Lý luận bình thường cũng cho thấy là nơi nào có lợi nhuận ngườisản xuất sẽ đổ xô vào, nếu như thị trường không độc quyền, cung do đó tăng sovới cầu, giá sẽ giảm để cung cầu quân bình và lợi nhuận sẽ không còn.
Mô hình kinh tếthị trường trên và hệ luận của nó bắt nguồn từ Adam Smith nhưng được GerardDebreu và Kenneth Arrow chứng minh nghiêm túc với các định đề toán học phản ánhcác định đề (axioms) và giả định kinh tế cần thiết.[16]
Lý thuyết kinh tếthị trường ngoài việc chứng minh sự hiệu qủa của một thị trường cạnh tranh hoànhảo khi không có phát triển, cũng đã đạt được cùng một kết luận cho cả trườnghợp nền kinh tế có phát triển do tăng dân số và năng suất (kết qủa của tiến bộtrong phương pháp quản lý thức sản xuất và khoa học kỹ thuật). Trongtrường hợp tối ưu đơn giản nhất khi có phát triển, được gọi là luật vàng(golden rule):[17]
Tốc độ phát triển = lãi suất[18] = tốc độ tăng tích lũy
Lý thuyết thị trườngcạnh tranh toàn hảo không nhằm giải thích thặng dư hoặc lãi từ đâu mà ra mà chỉnhằm giải thích giá trị tăng thêm được phân phối trên thị trường như thếnào. Thuyết tân cổ điển rút ra từ mô hình kinh tế được toán học hoá mộtkết luận là giá trị tăng thêm (hoặc sản phẩm tạo thêm ra) sẽ được phân chia hếtkhi lao động (lương) và tư bản (lãi) được trả theo năng suất biên. Lương trảcho lao động, lãi trả cho vốn là do thị trường quyết định khi người sản xuấttối ưu lợi nhuận còn nguời lao động tối ưu thoả mãn của họ.
Như vậy trên cơ sởcủa thị trường cạnh tranh toàn hảo, không có thặng dư bóc lột, ta có thể thấymột hệ luận quan trọng là để xoá bỏ bóc lột lao động, cần xây dựng một thịtrường cạnh tranh toàn hảo. Hay nói khác đi, để giảm thiểu bóc lột thì nhà nướccần có vai trò tích cực trong việc xây dựng thị trường cạnh tranh toàn hảo. Hệluận trên đưa đến phương pháp xoá bỏ bóc lột lao động khác với Marx. Hệ luậnnày cũng ngược lại hoàn toàn với cái nhìn là nhà nước không nên ảnh hưởng vào thịtrường mà cứ để “bàn tay vô hình điều động.” Và như Marx đã nhận định, nếu cứđể thị trường hoàn toàn tự do, thì thị trường cạnh tranh tất dẫn đến độc quyền.
Lý thuyết về thịtrường cạnh tranh toàn hảo cũng đưa đến hệ luận là lãi suất trong các hoạt độngkinh tế khác nhau sẽ ngang bằng khi thị trường đạt điểm tối ưu, và lợi nhuậnbằng không.
Nhưng thực tế làlãi suất thường không ngang nhau và lợi nhuận không bằng không. Điều này cóbốn lý do:
1. Thị trường thực tế mang tính độc quyền;
2. Thị trường thực tế có rủi ro theo nghĩa thị trường thựctế không hoàn hảo, và do đó các tác nhân trong thị trường không nắm được toànbộ thông tin;
3. Sáng kiến.
Điểm một đòi hỏi việc cải tổ thể chế để bảo đảmkhông có độc quyền tức là tình trạng một hay một vài người bán và người mua(hoặc công ty) có thể quyết định giá trên thị trường.
Điểm hai có cùng nguồn gốc là thông tin không đầyđủ. Nhưng khác nhau ở chỗ có rủi ro có thể tính trước được, nhưng có rủi rokhông thể tính trước được. Rủi ro tính trước được thường dựa trên xác xuất hiệntượng xảy ra trong quá khứ. Chẳng hạn trung bình người mượn tiền ngân hàng thìxác xuất trả lại là bao nhiêu, mất cắp trong bán hàng thì thường như thế nào.Lãi suất không cân bằng trên thị trường là do rủi ro này. Lãi suất thực tế sẽbằng lãi suất thị trường trừ đi mất mát do rủi ro.
Cũng có rủi rokhông tính trước được, chẳng hạn như việc đầu tư vào công nghệ tân tiến có khảnăng thành công lớn mà khả năng mất sạch cũng lớn, do đó lãi suất thường caohơn lãi suất trung bình rất nhiều (cho những người thành công). Rủi ro hiệndiện vì thông tin không toàn hảo. Do đó vai trò của thông tin rất quan trọng.Nắm hoặc khuynh đảo được thông tin sẽ tạo ra lợi nhuận. Điều này cho thấy vaitrò của nhà nước trong việc bảo đảm thông tin từ nhà nước là thông tin đạichúng, mọi người đều được hưởng như nhau, không thiên vị.
Điểm ba liên quan đến vai trò của sáng kiến (tấtnhiên cũng bao hàm nhiều tính rủi ro) bao gồm tinh thần lập nghiệp(entrepreneurship), phát minh và tri thức nói chung. Người lập nghiệp cóthể nhìn thấy lỗ hổng nhu cầu sản phẩm mới chưa được quan tâm trên thị trường,hoặc đơn vị sản xuất có sáng kiến và phát minh tăng năng suất có thể đạt đượcsiêu lợi nhuận vì là người sẵn sàng đi đầu, do đó vô hình chung tạo thế độcquyền định giá nếu như thị trường chấp nhận sáng kiến, phát minh của họ. Họ cóthể đạt siêu lợi nhuận. Nhưng siêu lợi nhuận sẽ dần dần mất đi vì các đơn vịsản xuất khác sẽ cạnh tranh cố gắng theo kịp do đó giá bị đẩy xuống. Để tìmhiểu xem siêu lợi nhuận có thể coi là siêu bóc lột không ta hãy xem xét thí dụsau. Chẳng hạn một nhà sáng chế nghĩ ra một sản phẩm mới có thể làm hạ giáthành của rất nhiều nhà sản xuất khác. Nhà sáng chế nhìn thấy mối lợi nên thuêngười làm, giả dụ không cần có tay nghề chuyên môn, để sản xuất công cụ đó vàtrả lương họ tương đương với lương cao nhất mà những người làm thuê không cầnchuyên môn này có thể kiếm được trên thị trường. Do lợi ích mà sản phẩm nàymang lại, người sử dụng cũng sẵn sàng trả giá rất cao cho các công cụ này, dođó tạo ra siêu lợi nhuận cho người sản xuất. Vậy siêu lợi nhuận này thuộc vềai? Về nhà sáng chế hay người lao động không tay nghề? Phải chăng lợi nhuận nàylà bóc lột lao động? Thí dụ này cho thấy sự gắn bó chặt chẽ của siêu lợi nhuậnvới tinh thần lập nghiệp, sáng kiến, phát minh và đóng góp của tri thức.
Sự tồn tại của siêu lợi nhuận chính là động lựcthúc đẩy sáng kiến và phát minh làm tăng năng suất. Siêu lợi nhuận côngty Microsoft tạo ra từ phần mềm Windows dùng để điều hành máy tính cánhân hiện nay có thể hiểu được khi sáng kiến của họ chưa có ai thay thếđược. Nhưng cũng chính vì sợ cạnh tranh mà họ phải đều đặn giảm giá đồngthời tăng khả năng sử dụng để vừa mở rộng thị trường vừa bảo vệ thị phần. Nếunhư nhà nước quốc hữu hoá hoặc đánh thuế đặc biệt vì sự hiện diện của siêu lợinhuận, chắc chắn phát triển của công nghệ thông tin sẽ không nhanh chóng nhưvừa qua. Nếu nhà nước đánh thuế cao vào thu nhập kếch sù của người nắm đa số cổphần Microsoft thì đây là hành động phân phối lại lợi tức, và không nhất thiếtđưa đến giảm động lực làm việc của họ nếu như mức thuế giữ ở mức độ mà việc làmviệc vẫn đưa đến nhiều thoả mãn hơn là ngồi không.
Lý thuyết thặngdư của Marx phân tích có tính trừu tượng hoá, giản lược mọi trường hợp vào tìnhtrạng trung bình, do đó các trường hợp đặc biệt như trường hợp sáng kiến nói ởtrên không có chỗ đứng. Thuyết thặng dư của Marx đã hoàn toàn bỏ quên động lựcsáng kiến vì tư lợi và vai trò tích cực của nó trong phát triển kinh tế, nhất làđộng lực tạo ra sự phát triển có tính nhảy vọt. Ở một nền kinh tế công hữu, nếunhư con người toàn hảo thì việc đưa sáng kiến có lợi cho mọi người cũng có thểkhông phải là ngoại lệ. Nhưng chỉ là không tưởng nếu việc xây dựng xã hội tốtđẹp đòi phải có những con người toànhảo.
Một vấn đề nữa của lý thuyếtthị trường toàn hảo là phải dựa vào một người ra giá (auctioneer) và thay đổinó để quân bình giữa cung của người bán và cầu của người mua và một hệ thốngthể chế điều hành nó. Thị trường gần nhất với thị trường cạnh tranh toànhảo là thị trường chứng khoán, nhưng chính thị trường chứng khoán đòi hỏi mộtthể chế do con người tự thiết chế một cách rất rõ ràng, không phải dựa vào bàntay vô hình mà có bàn tay quyền lực của tập thể xã hội thông qua hội đồngkiểm soát chứng khoán và hệ thống luật pháp được thiết chế nhằm ngăn chặn vàtrừng phạt những người muốn khuynh đảo thị trường bằng cách họp nhau định giá,dùng báo chí tung tin thất thiệt, lấy thông tin thống kê nhà nước trước khiđược công bố, v.v. và thị trường này cần người hô giá (auctioneer). Ởtrên tôi dùng chữ gần nhất là vì lý thuyết thị trường cạnh tranhtoàn hảo giả định là mọi đơn vị tham gia thị trường đều có thông tin toàn hảovề thị trường, nhưng giả định này không có thực. Thông tin không toàn hảo cókhi đưa đến hành động đàn lũ, thị trường chứng khoán trồi sụt lớn và bất ngờđòi hỏi sự can thiệp nhất định của nhà nước như quyết định tạm dừng buôn bánxảy ra năm 1987 ở Mỹ.
Bài này trình bày lại lý thuyết thặng dư của Marxvới kết luận rằng thặng dư có tính bóc lột lao động trong một nền kinhtế thị trường là điều vừa hiện thực, vừa có cơ sở lý luận. Bài viết cũng địnhnghĩa lại thặng dư theo quan điểm kinh tế mới và cho rằng lãi không phải làthặng dư lao động mà là giá ngang bằng (phải trả hoặc được hưởng) nhằm cân bằnggiữa cung và cầu vốn trên thị trường. Thặng dư có tính bóc lột do đó chỉlà phần lợi nhuận. Nhưng trong một nền kinh tế cạnh tranh toàn hảo (perfectcompetition) thì, về mặt lý thuyết, lợi nhuận sẽ bị đẩy xuống bằng không(zero). Bài này cho rằng có hai cách xoá bỏ bóc lột:
Nền kinh tế thị trường coi là tự nhiên điểm xuấtphát của từng cá nhân trong xã hội. Đây là điểm mà nhiều người quan tâm vì nólà nguyên nhân tạo ra sự mất bình đẳng về cơ hội. Điểm xuất phát này có thể doviệc thừa kế tài sản của cha mẹ, do điều kiện gia đình hoặc do tự nhiên (cóngười thông minh có người không; có người khoẻ mạnh, có người tật nguyền).Nhưng không thể cào bằng điểm xuất phát vì hậu quả của nó sẽ là mất động lựclàm việc và để dành cho con cái. Ngay cả ở một nước xã hội chủ nghĩa hiện thựctrước đây, ta cũng đã thấy hiện tượng không thể cào bằng này, như việc con mộtđảng viên thường hoặc một ủy viên bộ chính trị có lợi thế rất lớn so với mộtthường dân không đảng tịch. Tuy nhiên, ở một xã hội dựa trên kinh tế thịtrường, vì lợi ích chung của xã hội, ta vẫn có thể hạn chế điểm xuất phát bằngcách áp dụng các chính sách đánh thuế tài sản thừa kế, cũng như các biện phápcung cấp dịch vụ công miễn phí hoặc bù lỗ dịch vụ tư như trong giáo dục, y tế,văn hoá và nâng đỡ người không được tự nhiên ưu đãi. Đây là những điều nhà nướccó thể làm mà vẫn tôn trọng sở hữu cá nhân.
Quan điểm của Marx về thặng dư là hoàn toàn logicnhưng để một xã hội “không tư hữu” vận hành có năng suất và bảo đảm công lý, cósáng kiến nhằm tạo bước nhảy vọt, thì mọi người trong xã hội đó phải toàn hảo.Nhưng, thực tế cho thấy ngay cả tôn giáo cũng thất bại trong việc tạo ra nhữngcon người toàn hảo, và một ý thức hệ chính trị như chủ nghĩa Marx hay bất cứthứ chủ nghĩa nào khác cũng chưa chứng tỏ đã thành công trong việc tạo ra conngười toàn hảo. Kinh tế thị trường toàn hảo chỉ đòi hỏi xây dựng một thể chếthị trường toàn hảo chứ không đòi hỏi con người toàn hảo. Nó coi con người lànhững đơn vị kinh tế vị kỷ, nhưng buộc phải tuân thủ một số qui định mang tínhluật pháp của thị trường toàn hảo hay gần toàn hảo. Ngoài ra, con người cònphải tự ràng buộc mình vào đạo đức cá nhân như sự trung thực, tình nhân ái, nềnếp gia đình, yêu cầu tôn trọng người khác, tinh thần cộng đồng,…. Chúng lànhững điều mà truyền thống và văn hoá xã hội tạo ra và đòi hỏi. Cá nhân tựnguyện ràng buộc vì thấy chúng đúng, và cũng vì lợi ích bản thân, gia đình vàcộng đồng.
Việc Đảng Cộng Sản Việt Nam dự kiến cho phép đảngviên làm chủ sở hữu doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, như được trìnhbày trong Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng lần thứ 10 (2006) có thể đưađến một trong hai kết luận sau:
1. Nếunhư Đảng vẫn trung thành với lý thuyết thặng dư cổ điển của Marx thì việc chophép này là đi ngược với lý thuyết của Marx. Việc tiếp tục bảo vệ lý thuyết cổđiển này và hệ luận của nó nhưng lại cho đảng viên tự do “bóc lột”, là một hànhđộng có tính nguỵ tín, tức là chủ trương một đàng, làm một nẻo. Không thể chorằng đảng viên là công dân thì cũng có quyền như tất cả các công dân khác. Thídụ cụ thể sau cho thấy lý luận này không đứng vững. Nếu giáo lý đạo công giáokhông cho phép linh mục lấy vợ thì các linh mục không thể lấy lý do là các giáodân khác có quyền có vợ để cho rằng mình cũng cũng có quyền đó. Việc linh mụccó vợ chỉ hợp giáo lý nếu như giáo lý hiện tại thay đổi.
2. Nếunhư Đảng thay đổi chính sách đối với đảng viên như trên dựa trên tinh thần sẵnsàng xét lại toàn bộ lý thuyết của Marx, và những hệ luận của nó trên tinh khoahọc thì đó là dấu mốc quan trọng của một Đảng cầm quyền thấy ra trách nhiệmtrước dân tộc và đất nước.
Chủ nghĩa Marx là một chủ nghĩa phê phán, và cógiá trị về khoa học. Chính tính phê phán này đã đóng góp quan trọng vào sự thayđổi phương thức và hình thức hoạt động của chủ nghĩa tư bản, làm sụp đổ chủnghĩa thực dân và đế quốc. Chính vì tính phê phán mà chủ nghĩa Marx đã đượcnhiều người coi là kinh thánh, và đã từng là tiếng gọi của đấu tranh giai cấpđể giải phóng con người. Nhưng nó dần dần mất tính khoa học, không còn mangtính đổi mới và không được phát triển để giúp xem xét sự vận động của xã hộitrong hoàn cảnh mới và do đó khó có thể phù hợp với sự vận động của thế giớihiện nay. Đảng Cộng Sản Việt Nam nếu muốn tiếp tục có vai trò quan trọng trongquá trình phát triển của xã hội và đất nước Việt Nam trong hoàn cảnh mới thì cầnchủ động xem xét lại chủ nghĩa Marx một cách khoa học, hoặc vận dụng nó vàoviệc xem xét quá trình thay đổi xã hội hiện nay nhằm đổi mới cơ chế xã hộikhông còn phù hợp, và để có những chính sách kinh tế và xã hội phù hợp. Đóchính là tinh thần của phương pháp duy vật biện chứng. Chúng ta gần như khôngthấy hoặc ít thấy các công trình nghiên cứu về tình hình phân chia giai cấphiện nay ở Việt Nam.Phân tầng giai cấp đã mang hình thức mới, đặc biệt là giai cấp tư bản. Giai cấpnày hiện nay bao gồm giai cấp tư bản nhà nước, tư bản tư nhân và tư bản nướcngoài. Mỗi tiểu giai cấp này có quyền lợi riêng và đồng thời chia sẻ quyền lợichung. Tính giai cấp không độc lập mà giao thoa với việc phân tầng nhóm lợi ích(coi bảng dưới). Những nhóm lợi ích này có vai trò đóng góp vào việc bảo vệcông lý và quyền lợi chính đáng cho thiểu số (như quyền của phụ nữ, dân tộcthiểu số, tôn giáo, địa phương, ngành nghề, công chức và cả đảng viên vừa thuộcthành phần đảng lãnh đạo vừa không tránh khỏi biến thành nhóm lợi ích,...). Họđồng thời cũng nhằm tạo ưu thế riêng vượt trội các nhóm khác, có thể tạo ra sựtrì trệ trong phát triển cũng như có hại cho lợi ích chung. Đây là những vấn đềcần nghiên cứu để có chính sách phù hợp nhằm bảo đảm tính công bằng về cơ hộivà lợi ích chung.
|
| Giai cấp tư bản | Giai cấp lao động | ||||
|
| Nhà nước | Tư nhân trong nước | Nước ngoài | Nông dân | Lao động tay chân | Lao động trí óc |
| Nhóm phụ nữ |
|
|
|
|
|
|
| Nhóm địa phương |
|
|
|
|
|
|
| Nhóm thiểu số |
|
|
|
|
|
|
| Nhóm đảng viên |
|
|
|
|
|
|
| Nhóm công chức |
|
|
|
|
|
|
| Các nhóm ngành nghề |
|
|
|
|
|
|
Điều nữa cần xem xét lại để bổ sung chủ nghĩa Marxlà vai trò của quyền lực và lạm dụng quyền lực. Có thể nói một trong những hạnchế rõ nhất của chủ nghĩa Marx, lại không phải là lý thuyết thặng dư, mà làviệc không xem xét đến các yếu tố cơ chế phát sinh ra tham vọng của người cóquyền lực, từ đó dẫn đến sự triệt tiêu tính phê phán của một chủ nghĩa dựa trêntính phê phán. Chính tham vọng quyền lực và lạm dụng quyền lực, khi không cócơ chế giám sát và cân bằng quyền lực trong xã hội cũng như cơ chế bảo đảmdân chủ tức là bảo đảm tính phê phán hay phản biện của các thành viên trong xãhội trong đó có thành viên của Đảng, đã tạo ra sự lấn áp cá nhân hay độc tàikhi quyền tư hữu không được tôn trọng. Nhìn cụ thể vào xã hội với nền kinh tếthị trường ở Việt Nam,ta thấy ở đó hầu hết các quyền tư hữu đã được công nhận nhưng đại bộ phận củacải xã hội vẫn thuộc sở hữu công, ở đó Đảng nắm chính quyền còn đảng viên đượclàm nhà tư sản. Với những con người không toàn hảo, ta có thể thấy viễn tượnglà các thiếu sót trong cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực như hiện nay sẽtạo cơ hội cho tham nhũng không ngăn cản được. Điều này tất đưa đến sự suythoái quyền lực, và rồi cuối cùng đưa đến tình trạng mất tính chính danhcủa quyền lực. Lúc đó chế độ sẽ tự sụp đổ. Do đó vấn đề lớn cần xem xét lại cóthể không phải là lý thuyết thặng dư, từ đó đưa đến hệ luận là đảng viên cóquyền làm nhà tư bản hay không. Vấn đề lớn cần xem xét lại là hệ thống quyềnlực, và cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực trong xã hội một xã hội có giaicấp và có phân tầng lợi ích phe nhóm. Cần đánh giá xem hệ thống đó có khả năngvừa bảo đảm sự trong sạch, vô tư và tính chính danh của quyền lực, vừa bảo đảmquyền tự do và dân chủ cho mọi công dân nhằm ngăn cản việc lạm dụng quyền lựchay không.
Chú thích
[1]Bài này đã qua vài lần sửa chữa, lần thứ nhất, sau buổi hội thảo tại Hà Nội;lần thứ hai sau hội thảo hè 2002; và lần cuối là 22/2/2006. Tác giả xin cám ơnanh Phan Huy Đường đã đọc rất kỹ bài và cho nhiều ý kiến có giá trị, đồng ý vàkhông đồng ý. Tác giả sửa một số điểm tự thấy mình sai. Những điểm khác khôngcần sự điều chỉnh vì có sự khác ý kiến giữa tác giả và anh Phan HuyĐường.
[2]Ở bản thảo đầu, tôi viết đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản hoạt động hoàn toàn tựdo mà không bị các định chế nhà nước ràng buộc và kiểm soát. Phan Huy Đường cholà làm gì có chuyện đó. Chủ nghĩa tư bản làm ra luật pháp hay dùng quyền lực đểbảo vệ nó. Điều nhận xét của anh Đường là đúng. Tuy nhiên ở đây tôi chỉ muốnnói đến các định chế kinh tế hạn chế quyền lực của người chủ. Chẳng hạn nhànước thiết lập ra lương tối thiểu, đóng bảo hiểm thất nghiệp, vai trò kiểm soáttiền tệ của ngân hàng trung ương, quyết định giá của các công ty độc quyền, cấmcác hoạt động bè lũ trong việc định giá , đặt ra nguyên tắc kế toán vàkiểm tra báo cáo tài chính đối với công ty có bán cổ phần trên thị trường chứngkhoán, v.v.
[3] Capital,Vol. I, Encyclopaedia Britanica, Great Books of the Western World, Vol. 50,Chicago and London, trang 37.
[4]Bản thảo trước tôi dịch chữ “the first appropriator” là “người đánh cắp banđầu”, nhưng anh Phan Huy Đường cho thế là không đúng vì Marx đã phê phánProudhom về điểm này. Thặng dư không phải là do đánh cắp, lừa bịp, áp đặt mà làbản chất của chế độ tư bản trên cơ sở trao đổi đúng giá trên thịtrường.
[5] Capital,Vol 1, sđd, giới thiệu chương 23, trang 279.
[6]Để phù hợp với quan điểm của Marx thuế sản xuất là một phần của giá trị thặngdư.
[7]Trình bày này thực chất có khác với quan điểm của Marx cho là dịch vụ phi sảnxuất không phải là chi phí sản xuất mà là thặng dư. Quan điểm này bắt nguồn từAdam Smith, cha đẻ của lý thuyết kinh tế tư bản và được tiếp tục chấp nhận bởicác nhà kinh tế được gọi chung là trường phái kinh tế cổ điển, trong đó cóMarx. Quan điểm này đã bị bác bỏ từ lâu. Cho nên khi trình bày lý thuyết thặngdư của Marx tôi đã trình bày theo quan điểm mới, tức là mọi chi phí cho dịch vụđều là chi phí sản xuất. Điều này không ảnh hưởng gì đến lý thuyết thặng dư.
[8]GDP hay tổng sản phẩm quốc nội bao gồm giá trị mới tạo ra trong nền kinh tế.Như vậy, theo nguyên tắc GDP không bao gồm khấu hao tài sản cố định dùng trongsản xuất. Thế nhưng, Tài khoản quốc gia lại cộng thêm khấu hao để tính GDP vìviệc tính khấu hao theo đúng lý thuyết kinh tế rất khó khăn, đòi hỏi việc tínhlại toàn bộ giá trị tài sản cố định theo giá thị trường. Việc tính lại này làđiều mà hầu hết các nước, kể cả các nước phát triển cũng không thể tính ngayđược mà phải đợi ít nhất một năm sau, khi đã thu thập đầy đủ thống kê.
[9]Marx phân tích một nền kinh tế thị trường, do đó lương bổng tất yếu phản ánhgiá trị của lao động và năng suất lao động. Để tìm đến giá trị thặng dư, Marxđưa mọi lao động về lao động trung bình, và do đó lao động có giá trị cao, cónăng suất cao có thể đưa về bội số của lao động trung bình.
[10]Trên thế giới hiện nay, tuyệt đại đa số người sở hữu tư bản không bỏ tiền tựxây dựng và quản lý doanh nghiệp của mình. Hầu hết họ chỉ là những người sở hữucổ phần một cách thụ động.
[11]Đây là điểm ông Việt Phương đưa ra để làm sáng tỏ thêm phân tích về thặng dưcủa Marx trong một lần trao đổi riêng với tác giả.
[12]C. Mác và Ph. Ăng-Ghen, Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, các đoạn trongngoặc kép là trích theo bản dịch của Việt Nam, có trên Internet, http://www.vcp.org.vn. Có ý kiến cho rằng Marx xuất bản Tuyên Ngôn năm 1848, do đócó thể thay đổi quan điểm sau cuộc nội chiến Pháp với công xã Paris năm 1871 vàsau khi viết tập I bộ Tư Bản (xuất bản năm 1867). Điều này có thể xảy ravì với lần tái bản năm 1888, Engels có viết trong lời tựa là mặc dù có nhữngchỗ cần viết lại như đoạn phê phán văn chương theo hướng xã hội chủ nghĩa cũngnhư nhận định về sự liên hệ giữa những người cộng sản và các đảng phái đối lậpkhác nhưng vẫn quyết định giữ nguyên vì tính chất lịch sử của văn kiện. Tuy vậyý kiến này không có cơ sở vì trong Phê phán Cương Lĩnh Gotha (1875) viếttrước khi qua đời, Marx cho rằng một nhà nước của giai cấp vô sản phải là “kếthợp chuyên chính vô sản và tổ chức chính trị như công xã Paris.” (Bản dịch trênđịa chỉ Internet ở trên.) Tư tưởng cơ bản về vai trò của chuyên chính vô sảntrong nhà nước của giai cấp vô sản như vậy không có gì thay đổi, có chăng làsau này Engels nói đến tính tự nguyện của tiểu nông trong việc gia nhập hợp tácxã.
[13]Ở đây, thuế thu nhập không được kể tới vì nó chỉ nhằm phân phối lại lợi tức vàkhông ảnh hưởng đến giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm hay giá trị thặng dư.
[14]Dĩ nhiên thực tế này không nhất thiết đưa đến kết luận nếu cứ xoá bỏ tư hữu tấtdẫn đến sự độc đoán về quyền lực.
[15]Tức là lãi cần phải có để người có tiền để dành sẵn sàng cho người khác mượn.Hay nói khác đi, nó là phần thưởng cho người có tiến hoãn chi tiêu ngay, tức làgiá của tiền vốn.
[16]Gerard Debreu, Theory and Value: An Axiomatic Analysis of Economic Equilibrium,New Haven: YaleUniversity Press, 1959; K. Arrow and G. Debreu, “Existence of an Equilibriumfor a Competitive Economy,” Econometrica, 22, 1954; K. Arrow and LHurwicz, “On the stability of the Competitive Equilibrium, I,” Econometrica,26, 1958 và K.. Arrow, H.D. Block and L. Hurwicz , “On the stability of theCompetitive Equilibrium, II,” Econometrica , 27, 1959.
[17]E.S. Phelps, Golden Rules of Economic Growth, New York: Norton, 1966 hay E.S. Phelps,“Accumulation and the Golden Rule,” American Economic Review, Vol. 51,1961.
[18]Lãi suất (interest rate) = sản lượng biên của tích sản cố định (marginalproduct of capital). Lãi theo nguyên tắc được áp dụng cho cả vốn bỏ ra hoặc vốncho vay.
© Thời Đại Mới - Số 7 -Tháng 3/2006
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai7/200607_VQViet.htm
Lưu Ý: Thông tin nêu trên chỉ có tính tham khảo và có thể đã hết giá trị sử dụng tại thời điểm Quý Vị đọc thông tin này. Vì vậy Quý Vị cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.
MẠNG KIẾN THỨC LUẬT VIỆT NAM
Địa chỉ: Tầng 3, Số 26, Lô 1A, khu đô thị Trung Yên, Hà Nội
Tel: 04 2215 8998 - 0984.999597 *Fax: 04. 3783 5557
Sơ đồ chỉ dẫn: Xem tại đây