Thứ năm-24/07/2014
KIẾN THỨC LUẬT » Hôn nhân - Gia Đình

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2006
Ngày đăng: 15/4/2011 11:18:43 AM - Lượt xem: 5,862
Luật bình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006. Ngày 12 tháng 12 năm 2006, Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 18/2006/L-CTN. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.

            I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Thể chế hoá quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về “Nam, nữbình quyền”, giải phóng phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ; thể chế hoá Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.

Quan điểm “Nam,nữ bình quyền” của Đảng và Bác Hồ được xác định ngay trong Cương lĩnh đầu tiêncủa Đảng năm 1930. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí vaitrò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người luôncăn dặn các cấp uỷ Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác vậnđộng phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Gần77 năm qua, quan điểm đó luôn được quán triệt trong các văn kiện, Chỉ thị, Nghịquyết của Đảng qua các thời kỳ.

Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước, ngày 10/01/1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số152-NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận, chỉ rõ: “Tưtưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sẳc trong một số cán bộ,đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng namkhinh nữ”, chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý kinh tế của phụnữ, chưa thấy hết khó khăn trở ngại của phụ nữ…”

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, việc pháthuy hơn nữa vị trí, vai trò của các tầng lớp phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng củaĐảng, của nhân dân là yêu cầu, đòi hỏi lớn. Chỉ thị số 44- CT/TW ngày7/6/1984 của Ban Bí thư về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ chỉrõ: “Nhiều cấp uỷ Đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiệncác nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ…còn tư tưởngphong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em…”; “Cáctrường lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước, khi chiêu sinh cần quyđịnh tỷ lệ nữ một cách thoả đáng; …Các trường lớp tập trung cần tổ chức nhàtrẻ, lớp mẫu giáo để chị em có con nhỏ gửi cháu”….

Bước vào thời kỳ đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, ngày12/7/1993 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về đổi mớivà tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới. Nghị quyết nhấnmạnh: “Xây dựng và sửa đổi, hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội cóliên quan đến phụ nữ và lao động nữ... Có chủ trương, chính sách phù hợp đốivới phụ nữ dân tộc ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân,phụ nữ tàn tật”...

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư TW về mộtsố vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựngChiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nóiriêng…Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học- kỹ thuật, kinhtế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước,...cán bộ nữ dân tộc ít người, tôngiáo, vùng sâu, vùng xa. Cáctrường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinhcần có quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng, đưa vào chương trình đào tạo nhữngkiến thức về giới...”

Nghị quyết Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luậtpháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao họcvấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quanlãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ vàtrẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng giađình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

Nghị quyết Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trình độ mọimặt và đời sống vật chất, tinh thần thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện đểphụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ,người thày đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngàycàng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp.Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sáchvề bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiênquyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúcphạm nhân phẩm phụ nữ”.

2. Khắc phục những bất cậptrong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới vàtiến bộ của phụ nữ

Kể từ khi ra đời đến nay, Nhànước ta đã ban hành bốn bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992- sửa đổi, bổsung năm 2001),  trong đó, ngoài việc quyđịnh chế độ chính trị, bộ máy Nhà nước, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân..., còn quán triệt và thể chế hoá quan điểm “nam, nữ bình quyền” bằng nhữngquy định cụ thể. Hiến pháp đầu tiên - năm 1946 quy định: “Tất cả quyền bínhtrong nước là của toàn thể nhân dân Việt nam không phân biệt nòi giống, gáitrai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọiphương diện”; “Tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt gáitrai đều có quyền bầu cử…”

Sau nhiều lần bổ sung, sửa đổiđến nay, Điều 63 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân nữ và nam có quyềnngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nghiêmcấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ. Lao động nữ và nam việc làm nhưnhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụnữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và saukhi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật. Nhà nướcvà xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng pháthuy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoanhi, nhà trẻ và các  cơ sở phúc lợi xãhội khác  để giảm nhẹ gánh nặng gia đình,tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác,học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi vàlàm tròn bổn phận của người mẹ”.

Từ  Điều 53 đến Điều 74 Hiến pháp năm 1992 quyđịnh rõ các quyền,  nghĩa vụ công dân,trong đó, quy định quyền bình đẳng nam, nữ trên các lĩnh vực của đời sống xãhội và gia đình.

Trên cơ sở quy định của Hiếnpháp, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta nói chung, pháp luậtcó liên quan đến bình đẳng giới nói riêng được ban hành, đó là: Bộ luật dân sự,Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật laođộng, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân vàUỷ ban nhân dân, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật công đoàn, Luật thanhniên,  Luật hôn nhân và gia đình, Luậtbảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật doanhnghiệp, Luật đầu tư, Luật giáo dục, Luật khoa học công nghệ, Luật sở hữu trítuệ, Luật báo chí, Luật phòng, chống ma túy,  Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hộichứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), Luật khiếu nại, tố cáo,Pháp lệnh dân số, Pháp lệnh phòng, chống mại dâm, Pháp lệnh cán bộ, công chức,Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, các Chỉ thị, Nghị định, Nghị quyết củaChính phủ về ban hành Quy chế dân chủ trong hoạt động  cơ quan, ở xã, phường, thị trấn...

Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luậthiện hành (trước khi Quốc hội thông qua Luật bình đẳng giới - tháng 11/2006),công dân nữ, nam có quyền ngang nhau về mọi mặt: chính trị, kinh tế, lao động,văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế và gia đình. Có thểnói, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ vềquyền bình đẳng giữa nam, nữ.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về bình đẳnggiới (trước khi Quốc hội thông qua Luật bình đẳng giới) còn không ít hạn chế,bất cập. Đó là:

- Quyền bình đẳng nam, nữ được quy định tản mạn,rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau: Hiến pháp, Bộ luật,Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư..., chưa được tậphợp, hệ thống hoá trong một văn bản quy phạm pháp luật chuyên về bình đẳnggiới;

- Quy định đối với quyền của công dân nam, nữtrong một số văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý hành chính còn chưathống nhất, chưa quán triệt đầy đủ, triệt để nguyên tắc bình đẳng nam, nữ,không phân biệt đối xử giữa nam và nữ đã được quy định trong Hiến pháp 1992 (Vídụ: quy định tuổi quy hoạch, đào tạo cán bộ nam, nữ cách nhau 5 năm; quy địnhtiêu chuẩn nữ được tuyển dụng làm công chức, viên chức phải có độ tuổi thấp hơnnam, trình độ chuyên môn cao hơn nam, như: nữ đạt khá, giỏi, nam đạt trung bìnhkhá...);

- Hầu hết văn bản quy phạm pháp luật đều xác địnhđối tượng điều chỉnh chung là “công dân”, “người lao động”, “doanh nghiệp”(donam hoặc nữ làm chủ doanh nghiệp)..., mặc nhiên được hiểu không có sự phân biệtnam, nữ trong các quan hệ xã hội đó;

- Nhiều văn bản tuy có quy định về bình đẳng giớinhưng chỉ lặp lại quy định chung (mang tính chất khung) của Hiến pháp năm 1992,chưa cụ thể hoá trong văn bản chuyên ngành;

- Nhiều quy định mang tính “ưu tiên” cho nữ nhưngđồng thời hạn chế không ít quyền bình đẳng với nam giới về được quy hoạch, đàotạo, bồi dưỡng, khen thưởng... khi nữ cán bộ, công chức, viên chức, công nhânlao động thực hiện thai sản, sinh con, nuôi con nhỏ;

- Hầu hết các văn bản mới quan tâm qui định chếđộ, chính sách đối với lao động nữ có quan hệ lao động, được trả tiền lương(theo Bộ luật Lao động), chưa quan tâm đầy đủ đến cả lao động nam, nữ nôngnghiệp, nông thôn hoặc lao động tự do ở đô thị;

- Hệ thống pháp luật hiện hành nhìn chung cònthiếu quy định chế tài xử lý các hành vi vi phạm về bình đẳng giới, một số vănbản tuy có quy định nhưng chưa đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các vi phạm phápluật về bình đẳng giới.

3. Khắc phục tình trạng phân biệt đối xử về giớivà những khoảng cách giới trong thực tế

Hơn 60 năm kể từ khiNhà nước ban hành bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến nay, sự nghiệp “giảiphóng phụ nữ”, “nam, nữ bình quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam ngàycàng thu được nhiều thành tựu. Trong hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới doĐảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Việt Nam không ngừng vươn lênphát triển về mọi mặt và ngày càng khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Trongbối cảnh đó, phụ nữ Việt Nam luôn vững vàng, cùng sát cánh với nam giới nỗ lựcthi đua, phấn đấu và đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, đã có khôngít phụ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý, tham gia các cơ quan dân cử. Việt Namhiện dẫn đầu các nước châu Á và đứng thứ 18 trên thế giới về tỷ lệ nữ tham giaQuốc hội; số lượng nữ Chủ tịch và tương đương, Phó Chủ tịch cấp tỉnh tăng 50%so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ nữ ngày càng tăng trong Uỷ ban nhân dân các cấp:Cấp tỉnh tăng từ 6,4% lên 23,9%; cấp huyện tăng từ 4,9% lên 23%; cấp xã tăng từ4, 5% lên 19,5%. Tỷ lệ nữ thẩm phán Toà án nhân dân tối cao năm 2004 đạt 33%;nữ chủ doanh nghiệp tư nhân là 25%; tỷ lệ nam, nữ từ 10 tuổi trở lên biết chữlà 96% và 91%; nữ giáo viên cấp học mầm non đạt 100%, cấp tiểu học 78,3%, trunghọc cơ sở 68,2%, trung học phổ thông 56,1%, trung học chuyên nghiệp 65,6%, đạihọc 40,5%. Năm 2005, học viên nữ trên đại học đạt 30,1%, có 90% phụ nữ đượctiếp cận với các dịch vụ y tế; tỷ lệ phụ nữ khi sinh được chăm sóc y tế ở mứctrên 95%...    

Báo cáo đánh giá tìnhhình giới ở Việt Nam (tháng 12/2006) của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á(ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID), Cơ quan phát triển quốc tế Canada(CIDA) nhận xét: “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệphụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầuvề bình đẳng giới...Với việc các kế hoạch quốc gia khi xây dựng đều chú ý đếnvấn đề giới, chắc chắn việc bình đẳng giới sẽ đạt được các bước tiến xa hơnnữa”...Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam tăng từ  0,668 (năm 1998) lên 0,708% (năm 2004), đứngthứ 80/136 quốc gia và hầu như không có sự chênh lệch với chỉ số phát triển con người...”

Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi pháp luật về bình đẳng giớicòn nhiều hạn chế, tạo nên khoảng cách giới cần sớm khắc phục. Đó là:

- Không ít người trong xã hội vẫn tồn tại định kiến giới và tư tưởngtrọng nam hơn nữ, như: thích đẻ con trai hơn con gái; cha mẹ muốn để lại tàisản cho con trai nhiều hơn; nhiều người quan niệm việc bếp núc, dọn dẹp nhàcửa, chăm sóc con cái, nội trợ…là của giới nữ; việc kiếm tiền, xây nhà cửa,quan hệ xã hội …là của giới nam. Vì vậy, ngay từ khi còn ở với cha mẹ và saukhi lấy chồng, phụ nữ thường có ít thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí,tham gia các hoạt động xã hội như nam giới;

- Cơ hội tiếp cận giáo dục của trẻ em gái và phụ nữ dân tộc thiểu số ởvùng sâu, vùng xa, vùng núi cao còn nhiều khó khăn, trở ngại hơn so với trẻ emtrai và nam giới ở cùng địa bàn đó, bởi nhiều trường hợp trẻ em gái phải laođộng giúp đỡ gia đình, không có điều kiện đi học xa nhà, ở nội trú, nhiềutrường hợp khác theo phong tục phải lấy chồng sớm…;

- Không ít cán bộ các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đúng vịtrí, vai trò của phụ nữ, có tư tưởng coi thường, chưa quan tâm bố trí, đào tạovà sử dụng cán bộ nữ, thậm chí gây khó khăn cản trở sự tiến bộ của phụ nữ. Vìvậy mặc dù tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý tăng đáng kể những năm gần đây,song thực tế còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng lực lượng phụ nữ trong xãhội. Ví dụ: Nữ Đại biểu Quốc hội khoá XI nhiệm kỳ 2002-2007 đạt tỷ lệ 27,31%; nữĐại biểu Hội đồng nhân dân khoá 2004-2009 cấp tỉnh chỉ đạt 23,8%, cấp huyện23,2%, cấp xã 20,1%; nữ Bộ trưởng và tương đương là 12,5%; cả nước chỉ có 8 nữChủ tịch tỉnh và tương đương, 32 nữ Phó Chủ tịch tỉnh; nữ chủ doanh nghiệp chỉđạt 20%,…Tỷ lệ nữ có học hàm học vị còn quá thấp so với nam giới (tổng số nữGiáo sư, Phó Giáo sư hiện chỉ có khoảng trên 5%);

- Trong sản xuất nông nghiệp hoặc thương mại dịch vụ, phụ nữ ít có cơ hộiđược tham gia tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề nên phần lớn phụnữ chỉ được làm các công việc giản đơn, thiếu ổn định, thu nhập thấp (chỉ bằng79% so với nam giới)…;

- Việc chăm sóc sức khoẻ đối với phụ nữ, nhất là sức khoẻ sinh sản cho nữdân tộc thiểu số còn hạn chế; số ca nạo phá thai trong nữ thanh niên và vịthành niên vẫn gia tăng; việc lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con vẫn chưa giảm;

- Tình trạng bạo lực, ngược đãi phụ nữ trong gia đình vẫn tồn tại ở cả đôthị và nông thôn, trong tất cả các nhóm xã hội. Không ít người quan niệm đó làviệc riêng, nội bộ của gia đình nên chưa có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêmminh;

- Do tác động của mặt trái cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế,vấn đề buôn bán phụ nữ qua biên giới, ra nước ngoài, môi giới kết hôn bất hợppháp đang trở nên bức xúc trong xã hội;

- Trong thực thi pháp luật, nhiều trường hợp chưa được quan tâm xem xétxử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới theo quy địnhcủa pháp luật hành chính và  hình sự .

Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội khoá XI tại kỳ họp lần thứ 9 (năm 2006)chỉ rõ: “Khoảng cách về giới vẫn còn tồn tại trong việc tiếp cận các dịch vụcơ bản, phụ nữ và trẻ em gái nghèo, dân tộc thiểu số còn ít cơ hội học tập vàchăm sóc sức khỏe; vấn đề tảo hôn, nạn phân biệt đối xử và ngược đãi phụ nữ,lạm dụng tình dục trẻ em gái, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em… là những tệnạn, vi phạm quyền bình đẳng của phụ nữ chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Cácmục tiêu về tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới chưa được các ngành, các cấp quantâm thực hiện một cách thường xuyên”; “lao động nữ chiếm tỷ lệ cao trong nôngnghiệp và một số ngành dịch vụ song còn ít được đào tạo nghề”; “đối tượng nhiễmHIV ở lớp trẻ và phụ nữ có xu hướng ngày càng tăng”; “còn có những biểu hiện phânbiệt đối xử với cán bộ, công chức nữ trong tuyển dụng, đào tạo và bổ nhiệm”.

4. Tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện mục tiêubình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế

Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trong trong các văn kiện quốc tế vềquyền con người, đặc biệt là Công ước liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thứcphân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (CRC),các Mục tiêu Thiên niên kỷ…Việt Nam đã ký, tham gia các Công ước quốc tế nóitrên. Việc Việt Nam ban hành Luật Bình đẳng giới thể hiện quyết tâm trong việcxóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với nam, nữ, là câu trả lời đầy đủ nhấtvề các khuyến nghị của Uỷ ban CEDAW với Việt Nam trong việc thực hiện Công ướcCEDAW.

Trên thế giới hiện có rất nhiều nước, kể cả nước phát triển và đang pháttriển đã ban hành các đạo luật về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, như: Úc,Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Phần Lan, Đan Mạch, Lào, Trung Quốc, Kô - sô - vô…Việcxây dựng Luật bình đẳng giới có sự tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm hay của cácnước trong khu vực và trên thế  giới, phùhợp với đặc điểm, điều kiện Việt Nam.

Có thể nói, việc xây dựng Luật bình đẳng giới nhằm tiếp tục thể chếhoỏ quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, khắc phục những bất cập trong xâydựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực thi pháp luật, góp phần nội luật hóa,khẳng định quyết tâm của Việt Nam thực hiện các cam kết với quốc tế về quyềncon người, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ.

Luậtbình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI,kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006. Ngày 12 tháng 12 năm 2006,Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 18/2006/L-CTN. Luật này có hiệu lực thi hànhtừ ngày 01 tháng 7 năm 2007.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

 1. Thể chế hoá quan điểm của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X và tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, phát huy nguồn lựccon người, tạo cơ hội và điều kiện cho cả nam và nữ cùng tham gia đóng góp vàosự phát triển chung của đất nước và hưởng lợi từ thành quả của sự phát triển.

2. Cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định về bình đẳng nam, nữ, không phân biệtđối xử giữa nam và nữ.

3. Rà soát, hệ thống hoá và pháp điển hoá các quy định của pháp luật hiệnhành về bình đẳng giới; xác định rõ vị trí của Luật bình đẳng giới trong hệthống pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất trong hệthống pháp luật.

4. Xác định rõ nguyên tắc bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổchức, gia đình và cá nhân làm căn cứ và cơ sở cho việc xây dựng pháp luật vàthực hiện bình đẳng giới.

5. Nội luật hoá những quy định phù hợp trong các Công ước Quốc tế vềquyền con người, đặc biệt là Công ước Liên hiệp quốc về xoá bỏ mọi hình thứcphân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm, phápluật nước ngoài .

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Bố cục:

Luật bình đẳng giới gồm 6 Chương, 44 Điều:

Chương I. Những quy định chungcó 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng ápdụng; áp dụng điều ước quốc tế về bình đẳng giới; mục tiêu bình đẳng giới; giảithích từ ngữ; các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới; chính sách của Nhà nướcvề bình đẳng giới; nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới; cơ quan quản lýnhà nước về bình đẳng giới; các hành vi bị nghiêm cấm.

Chương II. Bình đẳng giới trongcác lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình có 8 điều (từ Điều 11 đến Điều18) quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động,giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thểthao và bình đẳng giới trong gia đình.

Chương III. Các biện pháp bảo đảmbình đẳng giới có 6 điều (từ Điều 19 đến Điều 24) quy định biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới; bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việchoàn thiện hệ thống pháp luật; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựngvăn bản quy phạm pháp luật; thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; thôngtin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới; nguồn tài chính cho hoạtđộng bình đẳng giới.

Chương IV. Trách nhiệm của cơquan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳnggiới có 10 điều (từ Điều 25 đến Điều 34) quy định trách nhiệm của Chínhphủ; cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới; bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy bannhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; Hội liênhiệp phụ nữ Việt Nam; cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội, các cơ quan, tổ chức khác; trách nhiệm của gia đình và công dân trong việcthực hiện và bảo đảm bình đẳng giới.

Chương V. Thanh tra, giám sát vàxử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới có 7 điều (từ Điều 35 đến Điều42) quy định thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giám sátviệc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; khiếu nại và giải quyết khiếu nạihành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới; tố cáo và giải quyết tố cáo hànhvi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới; nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm phápluật về bình đẳng giới; các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới tronglĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và côngnghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế; các hành vi vi phạm phápluật về bình đẳng giới trong gia đình; các hình thức xử lý vi phạm pháp luật vềbình đẳng giới.

Chương VI. Điều khoản thi hànhcó 2 điều (Điều 43 và Điều 44) quy định về hiệu lực thi hành của Luật bình đẳnggiới và hướng dẫn thi hành Luật này.

2. Những nội dung cơ bản:

2.1) Phạm vi điều chỉnh, Điều 1 của Luậtbình đẳng giới quy định: Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giớitrong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳnggiới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiệnbình đẳng giới.

2.2) Đối tượng áp dụng, Điều 2 của Luậtbình đẳng giới quy định đối tượng áp dụng của Luật là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chínhtrị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xãhội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân,gia đình và công dân Việt Nam (gọi chung là cơ quan, tổ chức, gia đình, cánhân); cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổViệt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam.

2.3) Mục tiêu và các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới : Điều 4 của Luậtbình đẳng giới quy định mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữtrong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bìnhđẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợgiữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Điều 6của Luật bình đẳng giới quy định các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, baogồm: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, khôngbị phân biệt đối xử về giới; biện phápthúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới; chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ khôngbị coi là phân biệt đối xử về giới; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi phápluật; thực hiện bình đẳnggiới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân. Cácnguyên tắc này thể hiện rõ những điểm mới trong quy định của phápluật nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất trong trong các lĩnh vực của đờisống xã hội và gia đình.

Vớiviệc xác lập mục tiêu và nguyên tắc cơ bản này, Việt Nam không những thực hiệncam kết quốc tế mà còn xác định rõ «tư tưởng trọng nam hơn nữ» không cònchỗ để tồn tại.

 2.4) Chính sách của Nhà nướcvề bình đẳng giới, trong các quy định tại Điều 7, ngoài quy định thốngnhất với pháp luật hiện hành như: «bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình», đã quy định nhiều điểmmới như: Hỗ trợ và tạođiều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quátrình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển; bảo vệ, hỗ trợ ngườimẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chiasẻ công việc gia đình; áp dụng những biện pháp thích hợp để xóa bỏ phong tục,tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; khuyến khích cơquan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳnggiới; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dântộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợnhững điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với cácngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bìnhcủa cả nước. 

2.5) Nội dung quản lýNhà nước về bình đẳng giới, theo quy định tại Điều 8 của Luật bình đẳng giới,nội dung quản lý Nhà nước về bình đẳnggiới bao gồm: Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, mụctiêu quốc gia về bình đẳng giới; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạmpháp luật về bình đẳng giới; ban hành và tổ chức thực hiện các biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới ; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bìnhđẳng giới; xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳnggiới; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giảiquyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới; thực hiệncông tác thống kê, thông tin, báo cáo về bình đẳng giới; hợp tác quốc tế về bìnhđẳng giới. 

2.6) Cơ quanquản lý Nhà nước về bình đẳng giới, Điều 9 của Luật bình đẳng giới quyđịnh Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bình đẳng giới; Bộ hoặc cơ quan ngang bộ được Chính phủ phâncông chủ trì chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bìnhđẳng giới ; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giớithực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiệnquản lý nhà nước về bình đẳng giới trong phạm vi địa phương theo phân cấp củaChính phủ. Quy định này phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính, sắp xếplại bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trong đó cơ quanquản lý Nhà nước sẽ được Chính phủ phân công cho một Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ.

2.7) Các hành vi bị nghiêmcấm, Điều 10 của Luật bình đẳng giới quy định chung có 4 loạihành vi: cản trở nam, nữ thực hiện bìnhđẳng giới; phân biệt đối xử vềgiới dưới mọi hình thức; bạolực trên cơ sở giới; các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của phápluật.

2.8) Bình đẳnggiới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình được quy địnhtại Chương II từ Điều 11 đến Điều 18.

a- Về Chính trị , Khoản 1, 2, 3 Điều 11 của Luật bình đẳng giớiquy định nội dung thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành như:Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội;nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước củacộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; nam, nữ bình đẳng trongviệc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồngnhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Khoản4, 5 Điều 11 của Luật bình đẳng giới quy định một số điểm mới: Nam, nữ bìnhđẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị tríquản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới gồm:bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phùhợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bảo đảm tỷ lệ nữ thích đángtrong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốcgia về bình đẳng giới.

b- Về kinh tế, Điều 12 của Luật bình đẳng giới quyđịnh : Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hànhhoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp. Bên cạnh đó, còn quyđịnh mới : nam, nữ bìnhđẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động;biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới gồm: doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữđược ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật; lao động nữ khuvực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theoquy định của pháp luật.

c- Về lao động, Điều 13 của Luật bình đẳng giới quyđịnh nhiều điểm mới và cụ thể hoá một số quy định của pháp luật hiện hành.Đó là: Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bìnhđẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội,điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác. Nam, nữ bình đẳng về tiêuchuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành,nghề có tiêu chuẩn chức danh; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vựclao động bao gồm: quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; đào tạo, bồidưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; người sử dụng lao động tạo điều kiện vệsinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặngnhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại. 

d- Về giáo dục và đào tạo, nhằm khắc phục một số hạn chế của pháp luậtvà thực thi pháp luật hiện hành, Điều 14 của Luật bình đẳng giới quyđịnh một số điểm mới: Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng; nam, nữ bình đẳng trong việctiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ; nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡngmang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chínhphủ; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới tronglĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: quy định tỷ lệ nam, nữ tham giahọc tập, đào tạo; lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quyđịnh của pháp luật. 

e- Về khoa học và công nghệ, vănhoá, thông tin, thể dục, thể thao,Điều 15, 16 của Luật bình đẳng giới quy định rõ quyền bình đẳngnam, nữ trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ, các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổbiến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế; thamgia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, hưởng thụ văn hoá,tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin. 

g- Về y tế, Điều 17 của Luật bình đẳnggiới quy định một số điểm mới như: Nam, nữ bình đẳng trongtham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻsinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế; lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránhthai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lâytruyền qua đường tình dục.Đặc biệt, Luật quy định phụ nữ nghèocư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượngtham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗtrợ theo quy định của Chính phủ, nhằm từng bước giảm khoảng cách về giớihiện còn tồn tại trong thực tiễn thi hành pháp luật hiện nay.   

h- Về gia đình, ngoài các quy định thốngnhất với pháp luật hiện hành như: vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự vàcác quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; vợ, chồng có quyền, nghĩavụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thunhập chung của vợ chồng, Điều 18 của Luật bình đẳnggiới quy định một số điểm mới như: vợ chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong quyết định các nguồn lực trong gia đình; vợ,chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sửdụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóccon ốm theo quy định của pháp luật; con trai, con gái được gia đình chăm sóc,giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí vàphát triển; các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ côngviệc gia đình. 

2.9) Các biện pháp bảo đảm bìnhđẳng giới : Chương III quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới(từ Điều 19 đến Điều 24) bao gồm:

a- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Theoquy định tại Điều 5 của  Luậtbình đẳng giới về giải thích từ ngữ, thì biện pháp thúc đẩy bìnhđẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vịtrí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sựphát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảmđược sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trongmột thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đó đạt được.

  Điều 19 của Luậtbình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm: quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷlệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độnăng lực cho nữ hoặc nam; hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam; quyđịnh tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam; quy định nữ được quyền lựachọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; quy định việc ưutiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; các biện phápthúc đẩy bình đẳng giới được quy định tại Luật này.

Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ có thẩm quyền quy định biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới nêu trên, có trách nhiệm xem xét việc thực hiện biệnpháp thúc đẩy bình đẳng giới và quyết định chấm dứt thực hiện khi mục đích bìnhđẳng giới đó đạt được. 

b- Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giớitrong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, Điều20 của Luật bình đẳng giới quy định một số điểm mới: việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảmcác nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới; các nguyên tắc cơ bản về bình đẳnggiới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bảnquy phạm pháp luật. 

c- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựngvăn bản quy phạm pháp luật, Khoản 1 Điều 21 củaLuật bình đẳng giới quy định lồng ghép vấn đề bình đẳnggiới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thựchiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác độnggiới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong cácquan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Đây là vấn đềmới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Cụ thể,Khoản 1 Điều 21 của Luật bình đẳng giới quy định: Lồng ghép vấn đề bình đẳnggiới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: xác định vấn đềgiới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luậtđiều chỉnh; dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luậtkhi được ban hành đối với nữ và nam; xác định trách nhiệm và nguồn lực để giảiquyết các vấn đề giới trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

d- Thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, Điều 22 của Luật bìnhđẳng giới quy định trách nhiệm và nội dung thẩm tra như sau:

Uỷ ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực giới có trách nhiệm tham gia với Hội đồng dântộc, Uỷ ban khác của Quốc hội để thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đốivới các dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua.

Nội dung thẩm tra lồng ghépvấn đề bình đẳng giới bao gồm:

- Xácđịnh vấn đề giới trong dự án, dự thảo;

- Việcbảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

- Việctuân thủ thủ tục và trình tự đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giớitrong xây dựng dự án, dự thảo;

- Tínhkhả thi của dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới. 

e- Thông tin, giáo dục,truyền thông về giới và bình đẳng giới, Điều 23 của Luật bình đẳng giớiquy định thông tin, giáo dục,truyền thông về giới và bình đẳng giới làbiện pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới; được đưa vào chương trình giáo dục trong nhàtrường, trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức và cộng đồng; thông qua các chươngtrình học tập, các ấn phẩm, các chương trình phát thanh, truyền hình và các hìnhthức khác. 

g- Nguồn tài chính cho hoạt động bìnhđẳng giới, Điều 24 của Luật bình đẳng giới quy định cơ chế bảo đảmnguồn tài chính cho hoạt động bìnhđẳng giới bao gồm: Ngân sách nhà nước; đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân;các nguồn thu hợp pháp khác...

2.10) Trách nhiệmcủa cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và bảo đảm bìnhđẳng giới,được quy định tại Chương IV (từ Điều 25 đến Điều 34). Trong đó,quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, của cơ quan quản lý Nhà nước về bìnhđẳng giới, của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốcvà các  tổ chức thành viên, Hội Liên hiệpphụ nữ Việt Nam, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện bìnhđẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác, của gia đình, của công dân. Đángchú ý một số quy định sau đây : 

a- Tráchnhiệm của Chính phủ, Điều 25 của Luật bình đẳng giới quy định có một sốđiểm mới, như: hằng năm báocáo Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; trình Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bảnquy phạm pháp luật về bình đẳng giới; chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc lồng ghépvấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo thẩmquyền; công bố chính thức các thông tin quốc gia về bình đẳng giới; quy định vàchỉ đạo thực hiện tiêu chí phân loại giới tính trong số liệu thông tin thống kênhà nước; phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ươngHội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và chỉ đạo các cơ quan hữu quan trong việc tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của nhân dân về bình đẳnggiới... 

b- Trách nhiệm của bộ, cơquan ngang bộ, theo Điều 27 của Luật bình đẳng giới quy định trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạn của mình, bộ,  cơ quan ngang bộ cótrách nhiệm: Rà soát, sửađổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩmquyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mìnhquản lý; nghiên cứu, kiến nghịcơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý...

c- Trách nhiệm của Uỷban nhân dân các cấp: Điều 28 của Luật bình đẳng giới quy định Uỷ ban nhân dân các cấp có tráchnhiệm: Xây dựng kế hoạch triển khaithực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới tại địa phương; trình Hội đồngnhân dân ban hành hoặc ban hành văn b��n quy phạm pháp luật về bình đẳng giớitheo thẩm quyền; tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở địa phương;thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại,tố cáo về bình đẳng giới; tổ chức, chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục về giớivà pháp luật về bình đẳng giới cho nhân dân địa phương.

d- Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các tổ chức thành viên : Điều 29 của Luật bình đẳnggiới quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trậncó trách nhiệm: Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quảnlý nhà nước về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật; bảo đảm bình đẳnggiới trong tổ chức; tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới;tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viênthực hiện bình đẳng giới.

Điều 30 của Luật bình đẳnggiới quy định tráchnhiệm của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam: Thực hiện các quy định tại Điều 29 của Luật này; tổ chức các hoạt độnghỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phối hợp với cơ quan,tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểuQuốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnhđạo các cơ quan trong hệ thống chính trị; thực hiện phản biện xã hội đối vớichính sách, pháp luật về bình đẳng giới...

 

e- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện bình đẳng giới tạicơ quan, tổ chức mình: 

Điều31 của Luật bình đẳng giới quy định trong công tác tổ chức, cán bộ, cơquan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có trách nhiệm:Bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ bình đẳng trongviệc làm, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm và hưởng phúc lợi;bảo đảm việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trênnguyên tắc bình đẳng giới.

Tronghoạt động, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có trách nhiệm:Xác định thực trạng bình đẳng giới, xây dựng và bảo đảm thực hiện mục tiêu bìnhđẳng giới trong cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm; giáo dục về giớivà pháp luật về bình đẳng giới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao độngdo mình quản lý; có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, ngườilao động thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức và gia đình; tạo điềukiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹgánh nặng lao động gia đình...

 Điều 32 của Luật bình đẳnggiới quy định tráchnhiệm của cơ quan, tổ chức khác (khôngthuộc trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này như các cơ quan, tổ chứckinh tế, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ ViệtNam...) có trách nhiệm: Phải bảo đảmcho nam, nữ bình đẳngtrong tham gia và thụ hưởng; báo cáo hoặc cung cấp kịp thời thông tin về bìnhđẳng giới trong cơ quan, tổ chức theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền; bố trícán bộ hoạt động về bình đẳng giới; tổ chức nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiêncứu nhằm tăng cường bình đẳng giới; dành nguồn tài chính cho các hoạt động bìnhđẳng giới; tổ chức hệ thống nhà trẻ phù hợp để lao động nam, nữ kết hợp hài hoàgiữa lao động sản xuất và lao động gia đình; hỗ trợ lao động nữ khi tham giađào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi; tạo điều kiện cholao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con...

g- Tráchnhiệm của gia đình và công dân, Điều 33 của Luật bình đẳng giới quy định mộtsố điểm mới: gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức,hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giớ ; giáo dục các thànhviên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình;  đốixử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, laođộng và tham gia các hoạt động khác.

Điều 34 của Luậtbình đẳng giới quy định công dân có trách nhiệm: Học tập nâng cao hiểu biết,nhận thức về giới và bình đẳng giới; thực hiện và hướng dẫn ngườikhác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới; phê phán, ngăn chặn cáchành vi phân biệt đối xử về giới; giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳnggiới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.

2.11) Thanh tra, giám sát vàxử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, được quy định tại Chương V(từ Điều 35 đến Điều 42).

a- Về Thanh tra: Điều 35 của Luật bình đẳng giới quy định thanh tra việc thực hiện phápluật về bình đẳng giới, trong đó quy định cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳnggiới thực hiện chức năng thanh tra về bình đẳng giới, đồng thời quy định rõ nhiệmvụ, quyền hạn của thanh tra về bình đẳng giới.

b- Về giám sát: Điều 36 của Luật bình đẳng giới quy định Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoànđại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhândân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việcthực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

c- Khiều nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới: Để phù hợp vớiLuật khiếu nại, tố cáo hiện hành, Điều 37, 38 của Luật bình đẳng giới quy địnhviệc Khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tố cáo  hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

d- Nguyêntắc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, Điều 39của Luật bình đẳng giới quy định: Mọi hành vi vi phạm phápluật về bình đẳng giới phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Việc xử lý viphạm pháp luật về bình đẳng giới phải được tiến hành nhanh chóng, công minh,triệt để theo đúng quy định của pháp luật.

e- Các hành vi vi phạm pháp luật về bìnhđẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, được quy định tại Điều 40 củaLuật bình đẳng giới. Cụ thể là:

- Trong lĩnh vực chính trị (Khoản 1): Cản trở việc nam hoặc nữ tựứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân,vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chứcchính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp vìđịnh kiến giới; không thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm nam, nữ vào cương vịquản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới; đặt ra vàthực hiện quy định có sự phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ướccủa cộng đồng hoặc trong quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

- Trong lĩnh vực kinh tế (Khoản 2) : Cản trở nam hoặc nữ thànhlập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh vì định kiến giới; tiến hànhquảng cáo thương mại gây bất lợi cho các chủ doanh nghiệp, thương nhân của mộtgiới nhất định.

- Trong lĩnh vực lao động (Khoản 3): Áp dụng các điều kiện khác nhautrong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam,nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biệnpháp thúc đẩy bình đẳng giới; từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế laođộng, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việcmang thai, sinh con, nuôi con nhỏ; phân công công việc mang tính phân biệt đốixử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lươngkhác nhau cho những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính;không thực hiện các quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối với laođộng nữ.

- Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (Khoản 4): Quy định tuổi đàotạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ; Vận động hoặc ép buộc người khácnghỉ học vì lý do giới tính; từ chối tuyển sinh những người có đủ điều kiện vàocác khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinhcon, nuôi con nhỏ; giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến sách giáo khoacó định kiến giới.

- Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (Khoản 5): cản trở nam, nữtham gia hoạt động khoa học, công nghệ; từ chối việc tham gia của một giớitrong các khóa đào tạo về khoa học và công nghệ.

- Trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao (Khoản 6):cản trở nam, nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn và tham gia cáchoạt động văn hóa khác vì định kiến giới; sáng tác, lưu hành, cho phép xuất bảncác tác phẩm dưới bất kỳ thể loại và hình thức nào để cổ vũ, tuyên truyền bấtbình đẳng giới, định kiến giới; truyền bá tư tưởng, tự mình thực hiện hoặc xúigiục người khác thực hiện phong tục tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xửvề giới dưới mọi hình thức.

- Trong lĩnh vực y tế (Khoản 7): cản trở, xúi giục hoặc ép buộcngười khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới; lựa chọn giới tínhthai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giớitính của thai nhi.

g- Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình, (Điều41 của Luật bình đẳng giới), bao gồm : cản trở thànhviên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia địnhđoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính; không chophép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụngtài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng cácnhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới; đối xử bất bình đẳng với các thànhviên trong gia đình vì lý do giới tính; hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thànhviên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính; áp đặt việc thực hiện lao độnggia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm củathành viên thuộc một giới nhất định.

h- Các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳnggiới (Điều42 của Luật bình đẳng giới): Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bìnhđẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lýhành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân cóhành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới mà gây thiệt hại thì phải bồithường theo quy định của pháp luật.

2.12) Điều khoản thi hành(Chương VI), trong đó quy định Luật bình đẳng giới có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007(Điều 43) vàChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này (Điều 44).

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để  Luật bình đẳng giới sớm đi vào cuộc sống vàphát huy tác dụng tích cực, trong thời giantới các bộ, ngành, địa phương sẽ tổ chức triển khai một số công việc sau đây:

1. Cơ quan được giao chuẩn bịvăn bản sớm trình Chính phủ ban hành Chỉ thị và các Nghị định hướng dẫn thi hànhLuật Bình đẳng giới trước ngày 01/7/2006 - ngày Luật có hiệu lực, gồm: Nghịđịnh quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bình đẳng giới;Nghị định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm phápluật ; Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới;

2. Xây dựng kế hoạch triểnkhai, tuyên truyền và thực hiện Luật bình đẳng giới trong cán bộ, công chức, viênchức, nhân viên, người lao động  thuộc mìnhquản lý và các tầng lớp nhân dân.

BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔBIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM - BAN LUẬT PHÁP CHÍNH SÁCH


Lưu Ý: Thông tin nêu trên chỉ có tính tham khảo và có thể đã hết giá trị sử dụng tại thời điểm Quý Vị đọc thông tin này. Vì vậy Quý Vị cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.

Những nội dung khác cùng chuyên mục:
  • Công nhận án ly hôn ở nước ngoài: Ách tắc vì ...vướng luật! (15/4/2011 11:28:40 AM)
  • Con nuôi sẽ được Luật bảo vệ như con đẻ (15/4/2011 11:28:40 AM)
  • Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong Dự thảo Luật Phòng, chống mua bán người (15/4/2011 11:28:40 AM)
  • Xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Lào sống trên đất Việt: Chuyện… không tưởng? (15/4/2011 11:28:39 AM)
  • Quan điểm của sinh viên về sống chung trước hôn nhân (15/4/2011 11:18:47 AM)
  • Qui định về tuổi trẻ em trong hệ thống pháp luật hiện hành : Xung đột cần hòa giải ? (15/4/2011 11:18:47 AM)
  • Quyết định người nuôi dưỡng trong các vụ án ly hôn (15/4/2011 11:18:47 AM)
  • Tháo gỡ vướng mắc cho người ly hôn với người mất tích (15/4/2011 11:18:46 AM)
  • Thực tiễn giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Gần 20 năm không thể ly hôn (15/4/2011 11:18:46 AM)
  • Từ ngày 01/07/2009 : Án phí hôn nhân gia đình tăng gấp 4 lần (15/4/2011 11:18:45 AM)
  • Thực tiễn áp dụng luật hôn nhân và gia đình: Đòi sính lễ (15/4/2011 11:18:45 AM)
  • Thực tiễn áp dụng luật Hôn nhân và gia đình : Bị tâm thần, cha mẹ có được thay mặt xin ly hôn ? (15/4/2011 11:18:44 AM)
  • Tranh chấp sở hữu chung: Bị thiệt vì không chia tài sản chung (15/4/2011 11:08:56 AM)
  • Tranh chấp tài sản chung của vợ chồng: Phường “thiếu chính xác”, dân mất biệt thực tiền tỷ (15/4/2011 11:08:55 AM)
  • Tranh chấp tài sản chung của vợ chồng: “qua đường” cũng là vợ chồng ? (15/4/2011 11:08:54 AM)
  • Thăm dò ý kiến
    Bạn có hài lòng với giao diện của hệ thống kiến thức luật ?
    Tôi thấy rất đẹp !
    Tôi thấy bình thường
    Tôi thấy không đẹp
    Cần thay bằng tông đen
    Cần thay bằng tông xanh
    Ý kiến khác
    Bản đồ hướng dẫn đường đi
    Xem nhiều - Điểm tin
    Xem nhiều - Hỏi đáp
    Xem nhiều - Thủ tục
    Xem nhiều - Biểu mẫu
    Xem nhiều - Văn bản
    + Được xem nhiều
    + Hỗ trợ trực tuyến
    Dân sự - Thừa kế
Đất Đai - Bất động sản
  • Dân sự - Thừa kế
  • Đất Đai - Bất động sản
  • Đầu tư nước ngoài - Dự án
Hợp đồng - Sở hữu trí tuệ
  • Đầu tư nước ngoài - Dự án
  • Hợp đồng - Sở hữu trí tuệ
  • Thành lập công ty
Thay đổi đăng ký kinh doanh
Chia tách sáp nhập
  • Thành lập công ty
  • Thay đổi đăng ký kinh doanh
  • Chia tách sáp nhập
  • + Thông tin liên hệ

    CÔNG TY LUẬT NAM DƯƠNG

    Đ/c: Tầng 1, Khu văn phòng Nam Dương, đối diện 322 Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân, Hà Nội

    ĐT: 04. 2215 8998 - 2260 1636

    Hotline: 0984.99.95.97-  Ls Trung Hiếu

    Email: contact@luatnamduong.vn

    Website: www.luatnamduong.vn

    « Bài viết mới »
    + Điểm tin
    « Bài viết mới »
    + Hỏi đáp pháp luật
    « Bài viết mới »
    + Thủ tục
    « Biểu mẫu mới »
    + Biểu mẫu
    « Bài viết mới »
    + Văn bản
    CHUYÊN TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT
    Địa chỉ: Tòa nhà 26 lô 1A, Khu đô thị Trung Yên, Hà Nội.
    Email: contact@luatnamduong.vn
    Tham khảo các chuyên trang: www.dautunuocngoai.com.vn / www.dangkykinhdoanh.org / www.quyche.com
    © 2008 - 2014 KIẾN THỨC LUẬT

    Xem tốt trên các trình duyệt: IE 7+, Firefox 3+, GoogleChrome 4+

    Ghi rõ nguồn "kienthucluat.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.