




Hơn ba năm kết hôn với một Việt kiều Mỹ, chị GNP ngụquận 10 (TP.HCM) luôn phải sống trong cảnh vò võ chờ đợi bởi người chồngchủ yếu làm ăn ở Mỹ, lâu lâu mới bay về nước thăm chị một lần.
Bao giờ mới thành người độc thân?
Xa mặt cách lòng, những chuyến bay về nước ít ỏi ấyrồi cứ thưa thớt dần. Một ngày, chị P. nhận được hồ sơ thỏa thuận ly hôngửi về. Chị P. thuận tình ký tên để giải phóng cho đôi bên. Năm 2009,Tòa Thượng thẩm bang California, hạt San Bernardino sau đó đã ra bản ánghi nhận quyết định ly hôn của vợ chồng chị.
Sau đó, chị P. làm đơn gửi Bộ Tư pháp yêu cầu côngnhận bản án ly hôn trên có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Đơn của chịcùng các tài liệu liên quan được chuyển về TAND TP.HCM. Xem xét, TAND TPnhận định: Khoản 1 Điều 344 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định yêu cầucông nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòanước ngoài chỉ được xem xét trong trường hợp cá nhân phải thi hành cưtrú, làm việc tại Việt Nam hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hànhán tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu. Ở đây, người chồng đangcư trú tại Mỹ nên chị P. chưa đủ điều kiện để yêu cầu tòa công nhận vàcho thi hành bản án. Vì vậy, tòa đã đình chỉ giải quyết yêu cầu của chịP.
Để gỡ vướng cho chị P., cán bộ tòa hướng dẫn chị nộpđơn tiến hành thủ tục ly hôn ở tòa án trong nước. Để mọi việc thuận lợi,chị nên liên hệ với người chồng bên Mỹ để có sự thuận tình xác nhận.Còn nếu chị đơn phương xin ly hôn thì sẽ phải chờ thủ tục ủy thác tưpháp, vốn rất lâu và cũng rất khó suôn sẻ.
Chị P. làm theo hướng dẫn này nhưng không thể liên hệđược với người chồng bên Mỹ để làm thủ tục thuận tình ly hôn. Chị mệtmỏi vì “chồng không có” mà mình thì vẫn chưa được trở thành người độcthân, không biết bao giờ mới có điều kiện để xây dựng một mái ấm mới hợppháp.
Bế tắc bởi vướng quy định, thiếu hướng dẫn
Trước năm 2005, những trường hợp tương tự như chị P.rất dễ giải quyết vì đương sự chỉ cần yêu cầu Sở Tư pháp ở địa phươngmình sinh sống ghi chú hộ tịch là đã ly hôn với người nước ngoài thìđương nhiên được coi là người độc thân.
Tuy nhiên, từ sau ngày 1-1-2005 (ngày Bộ luật Tố tụngdân sự 2004 có hiệu lực), chuyện công nhận, cho thi hành bản án ly hôncủa tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành tòa án. Bắtđầu từ đây, các trường hợp xin công nhận bản án ly hôn của tòa án nướcngoài đã gặp bế tắc bởi hai lý do chủ yếu.
Lý do đầu tiên khá phổ biến: Trường hợp của đương sựkhông đủ điều kiện luật định để tòa án Việt Nam công nhận theo Điều 344Bộ luật Tố tụng dân sự (người hôn phối không cư trú, làm việc tại ViệtNam, không có tài sản liên quan đến việc thi hành án tại Việt Nam vàothời điểm đương sự gửi đơn yêu cầu).
Lý do thứ hai: Theo Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự,tòa án Việt Nam chỉ được xem xét công nhận, cho thi hành bản án của tòaán nước ngoài trên cơ sở điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại.Rắc rối là đến nay, chưa có văn bản công bố danh mục các nước có thamgia điều ước quốc tế hoặc ký kết hiệp định song phương với Việt Nam vềvấn đề này, cũng chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng nguyên tắc có đi cólại để các thẩm phán vận dụng.
Trên thực tế, một số nước mà công dân Việt Nam cónhiều quan hệ hôn nhân như Mỹ, Canada, Đức, Úc, Hàn Quốc… thì nước talại chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự cũng như các hiệp địnhkhác có liên quan đến việc công nhận bản án, quyết định của nhau.
Gỡ chỗ này, vướng chỗ khác!
Tại TP.HCM, để gỡ vướng cho các trường hợp chưa đủđiều kiện như chị P., tháng 8-2010, Ủy ban Thẩm phán TAND TP.HCM đã cóCông văn 2332 hướng dẫn: Thẩm phán thụ lý yêu cầu công nhận bản án lyhôn của tòa án nước ngoài không được đình chỉ giải quyết với lý do bênphải thi hành án đang ở nước ngoài.
Ngỡ rằng hướng dẫn này sẽ tháo gỡ được ách tắc nhiềunăm qua để triển khai thực hiện công nhận bản án ly hôn nước ngoài.Nhưng đến nay, TAND TP vẫn chưa thể công nhận được bản án nào do vướngtiếp bất cập ở Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự về chuyện tham gia điềuước quốc tế, ký kết hiệp định song phương hay áp dụng nguyên tắc có đicó lại.
Trên phạm vi cả nước, tháng 10-2010, Bộ Tư pháp cóThông tư số 16 tạm thời hướng dẫn việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đãtiến hành ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc ghi chú hộ tịch này có giới hạnrất hẹp: Thứ nhất, chỉ ghi chú hộ tịch nếu bản án đó là của các nước đãký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam về vấn đề này. Thứ hai, nếulà bản án của các nước chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Namthì việc ghi chú hộ tịch do bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định (sau khi đãtham khảo ý kiến của Bộ Ngoại giao) theo nguyên tắc có đi có lại.
___________________________________________________
Tháng 5-2009, TAND TP.HCM đã ra quyếtđịnh đình chỉ giải quyết trường hợp ông LVN yêu cầu công nhận bản án củaTòa án gia đình Wolfenbutter (Đức) cho ông được ly hôn với bà TTN.
Lý do TAND TP đình chỉ giải quyết cũng là do bà N. đang sinh sống tại Đức và không có tài sản ở Việt Nam.
Tháng 1-2010, TAND TP.HCM đã ra quyết định đình chỉgiải quyết yêu cầu công nhận bản án ly hôn của tòa án nước ngoài của bàDTNH với lý do người chồng đang cư trú ở nước ngoài, không có tài sản ởViệt Nam nên trường hợp của bà H. không đủ điều kiện.
Trước đó, tháng 8-2008, Tòa án Tối cao BritishColumbia (Canada) cho bà H. được ly hôn với ông DHT theo bản án sốE080672 (hai người không có con chung và tài sản chung). Tháng 9-2009,bà H. làm đơn yêu cầu Bộ Tư pháp công nhận và cho thi hành tại Việt Nambản án này. Vụ việc của bà sau đó được chuyển về cho TAND TP.HCM thụ lý.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - BÌNH MINH
Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn/20110407010935760p0c1063/cong-nhan-an-ly-hon-o-nuoc-ngoai-ach-tac-vi-vuong-luat.htm
Lưu Ý: Thông tin nêu trên chỉ có tính tham khảo và có thể đã hết giá trị sử dụng tại thời điểm Quý Vị đọc thông tin này. Vì vậy Quý Vị cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.
MẠNG KIẾN THỨC LUẬT VIỆT NAM
Địa chỉ: Tầng 3, Số 26, Lô 1A, khu đô thị Trung Yên, Hà Nội
Tel: 04 2215 8998 - 0984.999597 *Fax: 04. 3783 5557
Sơ đồ chỉ dẫn: Xem tại đây